Trong hầu hết các hệ thống pháp luật, bị can được cho phép lựa chọn và có quyền sử dụng dịch vụ của một luật sư để đại diện cho mình trong quá trình xét xử. Trong bài viết sau hãy cùng ACC tìm hiểu về Bị can có được từ chối luật sư bào chữa không? để bạn có nhiều thêm một sự lựa chọn khi cần đến.

Nội dung bài viết
1. Từ chối luật sư bào chữa là gì?
“Từ chối luật sư bào chữa” là quyền của luật sư từ chối đại diện và bào chữa cho một bên trong một vụ việc hoặc một vụ kiện nhất định. Quyền này được luật sư có thể áp dụng trong một số trường hợp, bao gồm:
- Xung đột lợi ích: Nếu việc đại diện cho bên này sẽ xung đột với lợi ích hoặc nghĩa vụ pháp lý của bên khác mà luật sư đã hoặc đang đại diện.
- Không đủ năng lực chuyên môn: Nếu luật sư cho rằng mình không có đủ năng lực hoặc kinh nghiệm chuyên môn để đảm nhận vụ việc cụ thể.
- Bất đồng quan điểm pháp lý: Nếu luật sư và bên được yêu cầu đại diện có sự bất đồng quan điểm về chiến lược pháp lý, phương pháp bào chữa.
- Lí do đạo đức hoặc đạo lý: Nếu việc đại diện cho bên này vi phạm các quy tắc đạo đức, đạo lý hoặc tạo ra mâu thuẫn với giá trị pháp luật mà luật sư tuân thủ.
2. Bị can có được từ chối luật sư bào chữa không?
Ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, bị can thường không thể bị từ chối quyền lựa chọn luật sư bào chữa mình. Quyền này được xem là một phần của quyền bào chữa của bị can, được bảo đảm bởi các luật pháp về tố tụng hình sự để đảm bảo quyền lợi hợp pháp và công bằng.
Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ khi luật sư có thể bị từ chối bào chữa cho bị can, thông thường là do các lý do đạo đức hoặc pháp lý. Cụ thể:
- Xung đột lợi ích: Luật sư có thể bị từ chối bào chữa nếu đã từng hoặc đang đại diện cho bên có lợi ích đối lập trong vụ án. Điều này có thể dẫn đến xung đột lợi ích và gây ra sự mâu thuẫn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị can.
- Vi phạm đạo đức hoặc pháp lý: Nếu luật sư yêu cầu bị can vi phạm các nguyên tắc đạo đức hoặc pháp lý trong quá trình bào chữa, ví dụ như tham gia vào các hành vi không đúng đắn để bảo vệ bị can, có thể dẫn đến việc từ chối bào chữa.
- Không thỏa thuận hợp đồng: Trong một số trường hợp, việc từ chối bào chữa cũng có thể xảy ra nếu không có thỏa thuận hợp đồng giữa bị can và luật sư, hoặc nếu không đáp ứng các điều kiện cụ thể được quy định.
Việc từ chối luật sư bào chữa cho bị can là một biện pháp cuối cùng và thường được xem xét cẩn trọng để đảm bảo rằng các quyền cơ bản của bị can vẫn được bảo vệ. Bất kể lý do gì, quyền bào chữa của bị can là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hình sự và không thể bị hạn chế một cách không hợp lý.
3. Quyền nhờ người bào chữa đối với bị can đang bị tạm giam được thực hiện như thế nào?
Khi tiếp nhận người bị bắt, giao Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ, Quyết định khởi tố bị can cho bị can, người thực hiện lệnh, quyết định, tiếp nhận người bị bắt phải đọc, giải thích rõ về quyền, nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và ghi vào biên bản giao nhận. Trong biên bản phải ghi rõ ý kiến của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can về việc có nhờ người bào chữa hay không và đề nghị thông báo cho người đại diện, người thân thích để cơ quan có thẩm quyền thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có liên quan đến người đại diện hoặc người thân thích của họ. Việc thực hiện quyền nhờ người bào chữa như sau:
Đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam
- Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam có đơn yêu cầu người bào chữa thì Cơ quan điều tra, cơ sở giam giữ đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết.
Việc chuyển đơn yêu cầu người bào chữa của cơ quan đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam được gửi trực tiếp tại trụ sở cơ quan này hoặc gửi qua đường bưu chính. Nếu gửi trực tiếp tại trụ sở cơ quan đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thì phải có ký nhận tại sổ giao nhận công văn, tài liệu.
- Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam chưa yêu cầu nhờ người bào chữa thì trong lần đầu tiên lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, lần đầu tiên hỏi cung bị can, Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải hỏi rõ người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can có nhờ người bào chữa hay không và phải ghi ý kiến của họ vào biên bản. Nếu họ có yêu cầu nhờ người bào chữa thì Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra hướng dẫn họ viết đơn nhờ người bào chữa và thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Trường hợp họ không nhờ người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ sau khi lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, 24 giờ kể từ khi hỏi cung bị can lần đầu, Điều tra viên, Cán bộ điều tra đã lấy lời khai, hỏi cung có trách nhiệm thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam.
4. Bị can đang bị tạm giam nếu từ chối nhờ người bào chữa thì cơ quan điều tra phải thực hiện hoạt động gì?

Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt đang ở trụ sở Cơ quan điều tra
Theo quy định của Thông tư 46/2019/TT-BCA của Bộ Công an Việt Nam, đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc người bị bắt đang ở trụ sở Cơ quan điều tra, có các quy định cụ thể như sau:
- Thông báo cho người bào chữa: Cơ quan điều tra phải thông báo cho người bào chữa mà người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt đã nhờ. Thời hạn thông báo không quá 12 giờ kể từ khi lập biên bản bắt giữ.
- Thống nhất thời gian gặp: Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra có trách nhiệm thống nhất về thời gian để người bào chữa có thể gặp người bị giữ trực tiếp. Thời gian này phải được thống nhất để đảm bảo quyền lợi pháp lý của người bị giữ.
- Xác nhận từ chối: Nếu người bị giữ từ chối sự bào chữa từ người đại diện hoặc người thân thích, điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải xác nhận việc từ chối này và lập biên bản ghi nhận.
- Quyết định tạm giữ: Trường hợp người bị giữ đã có quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền, điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra vẫn phải thông báo và thống nhất về thời gian gặp người bào chữa.
Những quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi pháp lý của người bị giữ và đồng thời bảo đảm quy trình tố tụng được thực hiện một cách hợp pháp và công bằng.
Đối với người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam
Quy định về người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam theo Thông tư 46/2019/TT-BCA của Bộ Công an Việt Nam có các điểm chính sau:
- Thông báo cho người bào chữa: Trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi lập biên bản, cơ quan điều tra, nhà tạm giữ, trại tạm giam phải thông báo kèm biên bản cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam.
- Thống nhất thời gian gặp: Điều tra viên hoặc cán bộ điều tra có trách nhiệm thống nhất về thời gian để người bào chữa có thể gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam. Việc này nhằm đảm bảo quyền lợi pháp lý và thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều 4 của Thông tư.
- Xác nhận từ chối và lập biên bản: Nếu người bị tạm giữ, bị can từ chối sự bào chữa từ người đại diện hoặc người thân thích, điều tra viên hoặc cán bộ điều tra phải xác nhận việc từ chối này và lập biên bản ghi nhận.
- Trường hợp có lệnh tạm giam: Nếu người bị tạm giữ đã có quyết định khởi tố và lệnh tạm giam của cơ quan có thẩm quyền, điều tra viên hoặc cán bộ điều tra vẫn phải thống nhất về thời gian gặp người bị tạm giữ để người bào chữa có thể tham gia vào quá trình bào chữa.
- Người bị tạm giữ được trả tự do: Nếu người bị tạm giữ được trả tự do và vẫn còn tư cách tham gia tố tụng, người này vẫn có quyền tiến hành thủ tục đăng ký bào chữa, tuỳ theo các quy định cụ thể của pháp luật.
Các quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi pháp lý của người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam và đồng thời đảm bảo quy trình tố tụng được thực hiện một cách công bằng và hợp pháp.
5. Thực hiện thủ tục chỉ định người bào chữa được quy định ra sao?
Căn cứ theo quy định tại Điều 5 Thông tư 46/2019/TT-BCA về thực hiện thủ tục chỉ định người bào chữa như sau:
Đối với người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hoặc người đại diện hoặc người thân thích của người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa có đơn yêu cầu người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thực hiện các quy định tại Điều 3, Điều 4 Thông tư này. Nếu người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa không có đơn yêu cầu người bào chữa thì thực hiện như sau:
- Trong thời hạn 03 ngày kể từ khi nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền mà người đại diện hoặc người thân thích của những người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm thực hiện các thủ tục chỉ định người bào chữa được quy định tại khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Khi nhận được văn bản cử người được quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong thời hạn không quá 24 giờ, Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra có trách nhiệm gặp bị can thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người đại diện hoặc người thân thích của những người quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để họ có ý kiến về việc chỉ định người bào chữa; việc gặp phải được lập biên bản và ghi rõ ý kiến của bị can, người đại diện hoặc người thân thích về việc có đồng ý hoặc thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Trường hợp đồng ý chỉ định người bào chữa thì cơ quan đang thụ lý vụ án làm căn cứ để tiến hành thủ tục đăng ký bào chữa.
- Trường hợp thay đổi người bào chữa, nếu bị can, người đại diện hoặc người thân thích nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan của người bào chữa đó để phân công; nếu không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm gửi đến một trong các cơ quan quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để cử lại người.
- Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đã cử người, người được cử chỉ định. Điều tra viên, Cán bộ điều tra có trách nhiệm thống nhất với người được cử chỉ định về thời gian gặp bị can thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người đại diện hoặc người thân thích của những người quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xác nhận việc từ chối.
6. Câu hỏi thường gặp
Điều kiện nào có thể dẫn đến việc từ chối luật sư bào chữa cho bị can?
Việc từ chối luật sư bào chữa cho bị can có thể xảy ra trong một số trường hợp sau đây: Xung đột lợi ích, Lý do đạo đức hoặc pháp lý, Không thỏa thuận hợp đồng
Quyền lợi của bị can khi bị từ chối luật sư bào chữa là gì?
Quyền lợi của bị can khi bị từ chối luật sư bào chữa bao gồm: Quyền được biện hộ, Yêu cầu hỗ trợ pháp lý, Được thông báo và giải thích rõ ràng
Bị can có được lựa chọn luật sư bào chữa không?
Có. Bị can có quyền lựa chọn luật sư bào chữa trong quá trình xét xử. Quyền này được coi là một phần quan trọng của quyền bào chữa và được bảo vệ bởi pháp luật. Bị can có thể tự do lựa chọn luật sư hoặc nhóm luật sư mình tin tưởng để đại diện cho mình trong các vụ án hình sự.
Hy vọng qua bài viết, Luật sư ACC đã giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về Bị can có được từ chối luật sư bào chữa không? Đừng ngần ngại hãy liên hệ với Luật sư ACC nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc gì cần tư vấn giải quyết.
