Bộ luật Hồng Đức là gì?

Bộ luật Hồng Đức là bộ luật ra đời dưới thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497), nên gọi là Bộ luật Hồng Đức và còn có tên gọi khác là Quốc triều hình luật hay Lê triều hình luật. Bộ luật Hồng Đức được chia thành 06 quyển, gồm 13 chương và 722 điều luật. Bộ luật này mang nhiều tư tưởng tiến bộ, đi trước thời đại, đặc biệt là tính nhân đạo. Luật sư ACC sẽ giới thiệu chi tiết Bộ luật Hồng Đức là gì, nội dung và giá trị của bộ luật này mang lại như thế nào? Mời độc giả cùng xem bài viết dưới đây.

1. Bộ luật Hồng Đức là gì?

Bộ luật Hồng Đức hay còn được gọi với những cái tên Quốc triều Hình luật và Lê Triều hình luật.

Có khá nhiều người nhầm tưởng bộ luật này được sáng tạo ra dưới triều vua Lê Thánh Tông, Tuy nhiên Luật Hồng đức chỉ là kết quả của thời đại cực thịnh của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam, được biên soạn qua nhiều đời dưới thời nhà Lê sơ. Vua Lê Thánh Tông đã có công tổng hợp, phân chia, sửa sang và cải tiến các điều luật đã có từ các thời vua trước và xây dựng bộ pháp điển này.

Hồng Đức là niên hiệu thứ hai của vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Với sự đóng góp được cho là có vai trò quan trọng hơn cả của vua Lê Thánh Tông mà Quốc triều Hình luật thường được dân gian gọi với cái tên Bộ luật Hồng đức.

2. Người cho ra đời bộ luật Hồng Đức là ai?

Khác với nhiều văn bản pháp luật được ghi rõ tên tác giả biên soạn, bộ Quốc triều Hình luật này do được biên soạn trải qua rất nhiều đời vua nhà Lê sơ nên không rõ chính xác ai là người cho ra đời Bộ luật.

Những điều luật đầu tiên xuất hiện từ thời vua Lê Thái Tổ (1428-1433), ngoài ra có lẽ có thêm cả sự góp sức biên soạn của Nguyễn Trãi, Phan Phu Tiên…nhưng sử sách cho rằng nhân vật có sự đóng góp để hoàn chỉnh Bộ luật này nhất là vua Lê Thánh Tông (vì niên hiệu của vị vua này là Hồng Đức) giữa thời Lê sơ.

3. Bố cục của Bộ luật Hồng Đức

Bố cục của Bộ luật Hồng Đức gồm hai phần: Phần đầu là bản Phụ lục về biểu đồ tang chế và quy định về kích thước đồ hình Cụ (roi, trượng, gông, dây xích,…).

Các quy định này không cơ cấu bằng điều luật mà tách ra thành từng biểu đổ khác nhau. Phần hai là phần nội dung chính được chia thành 6 quyển với 16 chương, 722 điều luật, trong mỗi quyển phân ra thành nhiều chương:

1) Quyển 1 có 2 chương với 96 điều. Chương “Danh lệ” – chương tên gọi luật, lệ gồm 49 điều, quy định những vấn đề có tính chất này nguyên tắc cơ bản chi phối trực tiếp đến nội dung của Bộ luật. Chương “Cấm vệ” gồm 47 điều, chủ yếu quy định về loại tội liên quan đến việc bảo vệ cung cấm, hoàng thành, hoàng tộc;

2) Quyển 2 gồm 2 chương với 187 điều. Chương “Chức chế” – vi chế gồm 144 điều quy định về chế độ quan chế, quan lại và các tội phạm liên quan đến chức vụ (trừ quan lại quân sự). Chương “Quân chính” gồm 43 điều quy định về các chế độ và các loại tội phạm liên quan đến lĩnh vực quân sự,

3) Quyển 3 gồm 6 chương với 127 điều. Chương “Hộ hôn” gồm 58 điều quy định về hôn nhân, gia đình và các vấn đề về hộ tịch, đồng thời quy định các loại tội phạm liên quan đến lĩnh vực này. Chương 2 và 3 – “Điền địa”, gồm 46 điều quy định những vấn đề liên quan đến ruộng đất (quyền sở hữu, mua bán, trao đổi, cầm cố). Chương 4 và 5 – “Hương hoả”, gồm 13 điều quy định các vấn đề liên quan đến thừa kế và hương hoả đối với di sản là ruộng đất, đồng thời, quy định các loại tội phạm vi phạm về các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế. Chương 6 – “Thông gian”, gồm 10 điều chủ yếu quy định các hành vi gian dâm, vi phạm chế độ hôn nhân và đời sống vợ chồng;

4) Quyển 4 gồm 2 chương. Chương “Đạo tặc” gồm 54 điều quy định về các hành vi cướp của, giết người, xâm hại an ninh quốc gia; hình phạt và việc bồi thường thiệt hại do các hành vi phạm tội gây ra. Như vậy, hành vi đạo tặc được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều loại hành vi khác nhau, chính vì vậy, hình phạt áp dụng cho tội phạm quy định trong chương này rất đa dạng. Chương “Đấu tụng” gồm 50 điều quy định về các hành vi gây gổ, đánh nhau, lăng mạ, chửi bới nhau và thưa kiện ở quan án;

5) Quyển 5 gồm 2 chương. Chương “Trá nguy” gồm 38 điều quy định về các hành vi gian dối, lừa đảo chủ yếu trong các giao dịch dân sự, quy định về hiệu lực của khế ước (hợp đồng) như điều kiện khế ước, khế ước vô hiệu… và giải quyết hậu quả của khế uớc vô hiệu. Chương “Tập luật gồm 92 điều quy định các hành vi nguy hiểm khác cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự chung mà không được quy định trong chương khác;

6) Quyển 6 gồm 2 chương. Chương “Bộ vong” gồm 13 điều quy định việc bắt người phạm tội bỏ trốn. Chương “Đoán ngục” gồm 65 điều quy định về điều tra, xét xử và thi hành án.

Bộ luật Hồng Đức là một bộ luật tổng hợp, bao gồm nhiều loại hành vi vi phạm pháp luật khác nhau như hình luật, dân luật, hành chính, hôn nhân – gia đình và kể cả luật tố tụng… Bên cạnh các quy định trong hầu hết các điều luật, các nhà làm luật phong kiến Việt Nam đều gắn hành vi vi phạm điều luật đó với một hay nhiều hình phạt. Chính vì vậy, pháp luật phong kiến nói chung mang nặng tính hình sự, mặc dù ít nhiều có sự phân biệt giữa dân luật và hình luật.

4. Nội dung Bộ luật Hồng Đức?

Quốc triều Hình luật vẫn còn những giá trị được lưu giữ cho đến tận ngày hôm nay.

Luật Hồng Đức là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau: Luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân-gia đình, luật hành chính v.v…

Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có 13 chương, ghi chép trong 6 quyển (5 quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều. Ngoài ra, trước khi đi vào các chương và điều thì Quốc triều hình luật còn có các đồ biểu quy định về các hạng để tang và tang phục, kích thước và các hình cụ (roi, trượng, gông, dây sắt v.v).

Trong bộ luật Hồng Đức, các quan hệ dân sự được đề cập tới nhiều nhất là các lĩnh vực như: quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng và thừa kế ruộng đất.

Hình luật là nội dung trọng yếu và có tính chất chủ đạo, bao trùm toàn bộ nội dung của bộ luật:

  • Vô luật bất thành hình
  • Chiếu cố
  • Chuộc tội bằng tiền
  • Trách nhiệm hình sự
  • Miễn, giảm trách nhiệm hình sự
  • Thưởng người tố giác, trừng phạt người che giấu

Các nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực hôn nhân của bộ luật là: hôn nhân không tự do, đa thê và xác lập chế độ gia đình gia trưởng. Nó thể hiện lễ nghĩa Nho giáo, trật tự xã hội-gia đình phong kiến, tuy nhiên vẫn có một số điểm tiến bộ.

Mặc dù không được tách bạch ra thành các chương riêng rẽ, nhưng Quốc triều hình luật đã thể hiện một số khái niệm của luật tố tụng hiện đại như:

  • Thẩm quyền và trình tự tố tụng của các cấp chính quyền
  • Thủ tục tố tụng như đơn kiện- đơn tố cáo, thủ tục tra khảo, thủ tục xử án, phương pháp xử án, thủ tục bắt người.

5. Tại sao nói Bộ luật Hồng đức là bộ luật đầy đủ và tiến bộ nhất trong thời kỳ phong kiến Việt Nam?

Bộ Luật Hồng Đức là một bộ luật điển hình, hoàn thiện nhất trong lịch sử Nhà nước phong kiến Việt Nam. Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp lý hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời, có những điểm tiếp cận gần với kỹ thuật pháp lý hiện đại.

Thứ nhất Bộ luật thể hiện tư tưởng tiến bộ vượt bậc, đi trước thời đại lúc bấy giờ, đặc biệt là tính nhân văn, tính nhân đạo sâu sắc bao trùm lên những đối tượng “dễ bị tổn thương” hơn trong xã hội, đó là người già, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ đang mang thai,…

Trong Bộ luật đề cập nhiều điều liên quan đến địa vị pháp lý của người phụ nữ – một điều ít thấy trong các bộ luật phong kiến. Thời xưa luôn quan niệm phụ nữ phải phụ thuộc vào gia đình chồng con, không được ly hôn, “lấy chồng theo chồng, chồng chết thì theo con”.

Vậy mà trong lĩnh vực hôn nhân, bộ luật bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em trong việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Phụ nữ có những địa vị độc lập nhất định như có quyền có tài sản riêng, có quyền xin ly hôn trong một số trường hợp. Ví dụ ly hôn do lỗi của người chồng quy định tại Điều 308:

“Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng) thì mất vợ”.

Ngoài ra còn có quy định không được ngược đãi vợ (điều 482), nghĩa vụ chung thủy (điều 401, 405).

Quy định như vậy quyền lợi của người phụ nữ đã được bảo đảm và quan trọng hơn nó cũng trở thành cơ sở để người chồng phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với vợ, với gia đình. Đây là quy định nổi bật phản ánh tính sáng tạo của nhà làm luật nhằm duy trì trật tự ổn định trong gia đình.

Mặc dù bị hạn chế bởi quan niệm giai cấp hẹp hòi, nhưng bộ luật này cũng đã đưa ra nhiều quy định bảo vệ con người, trong đó có cả việc bảo vệ những những ở tầng lớp dưới trong xã hội, như bảo vệ quyền dân chủ tự do của dân đinh, có nhiều điều quy định các hình phạt cụ thể chống lại sự nô tỳ hoá đối với dân đinh, đặc biệt là trong đó không có sự phân biệt về địa vị xã hội và bảo vệ danh dự, nhân phẩm con người. …

Thứ hai trong lĩnh vực quan lại, Bộ luật hồng Đức đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo và sử dụng quan lại, những điều luật liên quan đến quan tướng các cấp chiếm trên 50% tổng số điều luật về quy định về tội phạm.

Quan điểm “dân là gốc nước”, được thể hiện trong Luật Hồng Đức, cho thấy truyền thống này được Lê Thánh Tông kế thừa, thể chế hóa bảo vệ quyền lợi của người dân, Lê Thánh Tông đưa vào luật những hình phạt đối với những kẻ được giao trọng trách quản lý xã hội nhưng sách nhiễu dân, hành dân.

Thứ ba tuy ra đời cách đây hơn 500 năm, nhưng Bộ luật Hồng Đức đã quy định được gần như tất cả các tội danh cơ bản theo luật hình sự hiện đại. Hơn thế nữa các nhà làm luật thời bây giờ đã thể hiện bản chất nhân đạo của thời đại như: có quy định về chuộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ…

6. Câu hỏi thường gặp

Những quy định của Bộ Luật Hồng Đức còn được duy trì?

Các quy định pháp luật của Bộ luật Hồng Đức vẫn còn nguyên giá trị thời sự cho nền lập pháp của nước ta hiện nay. Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn và có những điểm tiếp cận gần với kĩ thuật lập pháp hiện đại. Đặc biệt là những quy định nhân đạo, tiến bộ đối với phụ nữ. Cái mà các bộ luật khác thời phong kiến thường không chú trọng đến với thân phận của người phụ nữ.

Đối với phụ nữ quyền lợi của người phụ nữ được đề cập chủ yếu trong hai chương là “Hộ hôn” và “Điền sản”. Bên cạnh vấn đề về tài sản, thừa kế thì sự tiến bộ, nhân văn trong Bộ luật Hồng Đức còn thể hiện qua địa vị ngang hàng của người vợ trong hôn nhân. Ngoài ra ở Điều 167 – Hồng Đức thiện chính thư đã có giấy từ xác thực một điểm tiến bộ minh bạch của Bộ luật Hồng Đức. Bên cạnh việc ưng thuận của cha mẹ hoặc các trưởng bối thì sự ưng thuận của hai bên trai giá cũng được pháp luật chú trọng và hiện nay điều này cũng được ghi nhận tại Luật hôn nhân gia đình 2014.

Tính nhân đạo của Bộ luật Hồng Đức thể hiện như thế nào?

– Đối với người phạm tội: Có những quy định riêng đối với người phạm tội trên 70 tuổi và dưới 15 tuổi, trong một số trường hợp không được xử tội hay không được tra khảo. Nghiêm cấm việc đối xử bạo lực với tù nhân trong một số trường hợp quy định.

– Đối với người gặp khó khăn đặc biệt: Đối với những người gặp hoàn cảnh khó khăn, không có nơi nương tựa thì quan chức địa phương phải giúp đỡ họ như: Dựng lều cho ở, chăm sóc che chở, chôn cất họ…

– Đối với phụ nữ và trẻ em: Quyền lợi của phụ nữ trong bộ luật này được quy định công bằng với đàn ông, bảo vệ quyền lợi của họ trong việc hương hoả, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Khi kết hôn, địa vị của người phụ nữ độc lập với chồng. Bộ luật quy định xử phạt rất nặng đối với trường hợp xâm phạm thân thể, nhân phẩm của người phụ nữ. Bên cạnh phụ nữ, luật Hồng Đức cũng quan tâm đến bảo về quyền lợi đối với trẻ em, không được mua trẻ em mồ côi và phụ nữ tự bán mình không có người bảo lãnh.

– Đối với một số đối tượng khác như: người thiểu số, nô tỳ, người làm thuê, ở đợ, người mất khả năng nhận thức,… Khi nô tỳ làm sai, chủ không được tự ý đánh chết nô tỳ mà phải báo quan, không được tự ý xâm chữ lên mặt nô tỳ. Việc xử lý người dân tộc phạm tội cũng có những cân nhắc nhẹ nhàng, áp dụng tục lệ của họ.

Giá trị tham khảo của Bộ luật Hồng Đức đối với việc hoàn thiện Bộ luật Hình sự 2015 nước ta hiện nay là gì?

Bộ luật Hồng Đức có những tiến bộ khá căn bản trong việc cải thiện hệ thống pháp luật thời phong kiến. Trong quá trình tiến bộ, cải tiến và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung hay Bộ luật hình sự nói riêng thì cần tiếp thu, vận dụng, kế thừa những tư tưởng tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức. Giữ vững và phát huy các truyền thống thượng tôn pháp luật, lấy dân làm gốc. Kết hợp tư tưởng phương Đông pháp luật có sự khoan dung và tư tưởng phương Tây với những tư tưởng pháp quyền hiện đại để định hướng cho hiện tại.

Hy vọng qua bài viết, Luật sư ACC đã giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về Bộ luật Hồng Đức là gì? Đừng ngần ngại hãy liên hệ với Luật sư ACC nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc gì cần tư vấn giải quyết.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *