Án treo là chế định pháp lý hình sự liên quan đến việc chấp hành hình phạt. Án treo được hiểu là việc tạm thời miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định của pháp luật. Hãy cùng Luật sư ACC tìm hiểu các chế định án treo theo quy định của pháp luật thông qua bài viết dưới đây.

Nội dung bài viết
1. Khái niệm và đặc điểm của án treo
Án treo là chế định hình sự ra đời từ rất sớm, trải qua một lịch sử phát triển lâu dài, từ sắc lệnh 21/SL ngày 14 – 2 – 1946 tới nay, tuy có nhiều cách hiểu khác nhau. Đôi lúc án treo được hiểu là “tạm đình chỉ việc thi hành án”, hoặc là một biện pháp “hoãn hình có điều kiện” hoặc là “biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”. Tuy nhiên, dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng án treo chưa bao giờ được coi là hình phạt trong hệ thống hình phạt.
Căn cứ vào Điều 60 BLHS 1999 cùng với những văn bản hướng dẫn thi hành và những phân tích nêu trên, theo tác giả “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng cho người đã bị kết án phạt tù không quá 3 năm, không buộc họ phải chấp hành hình phạt tù khi có đầy đủ những căn cứ và điều kiện nhất định do pháp luật hình sự quy định (nhằm khuyến khích họ tự giác cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội), đồng thời cũng cảnh cáo họ là nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành hình phạt tù đã được hưởng án treo của bản án trước đó”.
Việc quy định án treo một mặt, thể hiện nội dung khoan hồng, tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong pháp luật hình sự của nhà nước ta, mặt khác cũng thể hiện chính sách nghiêm trị kết hợp với giáo dục, khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta khi xét thấy người phạm tội không nguy hiểm tới mức nếu để ngoài xã hội không những không ảnh hưởng xấu đến tình hình phòng ngừa và chống tội phạm, mà còn có tác dụng tốt đối với việc giáo dục họ, tạo điều kiện thuận lợi hơn để họ có thể cải tạo tốt để trở thành người có ích cho xã hội.
Từ khái niệm nêu trên, có thể thấy án treo có những đặc điểm sau:
– Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
– Việc toà án quyết định án treo nhất thiết phải kèm theo thời gian thử thách nhất định.
– Án treo chỉ được áp dụng khi có đủ những căn cứ và những điều kiện do pháp luật quy định.
– Án treo không phải là một loại hình phạt.
2. Bản chất pháp lí của án treo
Căn cứ vào định nghĩa và đặc điểm của án treo, ta có thể thấy bản chất pháp lí của án treo đó là:
– Án treo là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam.
– Là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
– Được áp dụng đối với người bị phạt tù có thời hạn không quá 3 năm (bản án đã có hiệu lực trên thực tế), có nhân thân tốt, có những tình tiết giảm nhẹ (ít nhất phải có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điều 46 BLHS 1999), và Tòa án xét thấy không cần thiết phải bắt buộc họ chấp hành hình phạt tù.
– Người được hưởng án treo sẽ phải chịu 1 thời gian thử thách nhất định do pháp luật quy định.
3. Vai trò, ý nghĩa của án treo
Hiện nay có rất nhiều ý kiến xoay quanh việc có nên cho phép tồn tại án treo hay không. Thậm chí còn có ý kiến đề xuất nên bỏ hẳn án treo và thay bằng hình phạt cải tạo không giam giữ. Như vậy chúng ta cần phải xem xét vai trò của án treo như thế nào đối với việc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Trước hết, cần phải khẳng định rằng “án treo” và “cải tạo không giam giữ” hoàn toàn khác nhau.
Thứ nhất, “cải tạo không giam giữ” là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam. Còn “án treo” không phải là một loại hình phạt mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Một bên đang chấp hành án, thời hạn hình phạt rút ngắn từng ngày (cải tạo không giam giữ); bên kia là trong thời gian thử thách, hình phạt vẫn lơ lửng trên đầu, nếu tái phạm thì phải ngồi tù (án treo).
Thứ hai, “cải tạo không giam giữ” chỉ áp dụng đối với những người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội (tức là hành vi phạm tội chưa đến mức phải phạt tù, nhưng cũng cần phải giáo dục răn đe). Án treo được áp dụng với tất cả các loại tội phạm không phân biệt tội gì mà mức phạt tù không quá 3 năm, ngoài ra người được hưởng án treo còn phải đáp ứng một số điều kiện nhất định do pháp luật quy định (nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên…), nếu xét thấy không cần thiết phải buộc họ chấp hành hình phạt tù (tức là hành vi phạm tội đáng phạt tù, nhưng không nhất thiết phải bắt họ phải thi hành hình phạt, mà việc để họ ngoài xã hội cũng không ảnh hưởng xấu đến việc phòng và chống tội phạm, chẳng những thế lại còn có tác dụng tốt hơn trong việc cải tạo họ trở thành người lương thiện có ích cho xã hội).
Thứ ba, đối với “cải tạo không giam giữ” nếu người phạm tội thực hiện tội phạm mới trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì họ cũng không bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của hình phạt trước. Còn đối với “án treo”, nếu người được hưởng án treo thực hiện tội phạm trong thời gian thử thách thì họ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước mà không cho hưởng án treo nữa. Nghĩa là hình phạt tù của bản án trước luôn “treo lơ lửng” trên đầu họ, và luôn nhắc nhở họ rằng nếu còn phạm tội thì bản án trước đó cho phép họ hưởng án treo sẽ “rơi” xuống đầu họ.
Thứ tư, cải tạo không giam giữ có thời hạn sáu tháng đến ba năm, chỉ áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng. Còn án treo được vận dụng đối với tất cả các loại tội, kể cả tội phạm ma túy, xâm phạm an ninh quốc gia. Chế định này đã giúp cá thể hóa hình phạt tới từng trường hợp phạm tội. Đó là tính ưu việt của án treo.
Qua những đặc điểm của cải tạo không giam giữ nêu trên có thể thấy rằng tính chất giáo dục của án treo dường như có tác dụng hơn đối với cải tạo không giam giữ. Bởi lẽ, án treo vừa có tính chất trừng phạt, răn đe, đồng thời cũng vừa có tính chất nhân đạo, khoan hồng, tạo điều kiện tốt hơn cho người phạm tội tự cải tạo mình thành người có ích cho xã hội hơn.
Cũng có người cho rằng áp dụng án treo là làm mất đi tính nghiêm minh của pháp luật, vì có những trường hợp không đáng cho hưởng án treo nhưng với ý định chủ quan của người thẩm phán muốn cho hưởng án treo ngay từ đầu nên toà án hạ thấp mức phạt tù xuống để đủ điều kiện cho hưởng án treo, có những trường hợp đáng cho hưởng án treo thì lại phạt tù giam v.v… Đó là việc con người cố ý làm sai pháp luật làm mất đi bản chất của án treo. Bởi lẽ, chúng ta đều biết, án treo không phải là một loại hình phạt mà nó chỉ là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Có nghĩa là, khi toà án xét xử một người phạm tội, thì toà án phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, cũng như hậu quả xảy ra để ấn định mức phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội, sau đó mới xét đến các điều kiện mà pháp luật quy định để xem xét có nên cho người đó được hưởng án treo hay không. Việc thi hành hình phạt tù đối với người phạm tội có nhiều mặt tốt trong việc cải tạo người phạm tội, nhưng bên cạnh đó không phải không có những hạn chế nhất định. Việc tước đi quyền tự do, cách ly tạm thời người phạm tội ra khỏi môi trường sống bình thường ngoài xã hội, cải tạo họ trong một môi trường đặc biệt ở trại cải tạo, bắt buộc họ phải tuân theo những nguyên tắc hầu như không thay đổi, sẽ làm cho phạm nhân trở nên thụ động. Nếu sống ở trong môi trường đặc biệt này ở một mức độ nhất định, thì tính thụ động đó sẽ trở thành một thói quen mà sau này ra tù không phải ai cũng có thể khắc phục được. Và nếu như những định kiến ngoài xã hội vẫn coi họ là những người bị tù, ngại hay sợ tiếp xúc với họ, hoặc các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế ngoài xã hội… không muốn nhận họ vào làm việc, cùng với những xáo trộn trong cuộc sống gia đình như vợ (chồng) xin ly hôn, kinh tế giảm sút… buộc họ phải tìm mọi cách để tự kiếm sống, thì điều này rất dễ tác động đến tâm lý của họ, rất dễ dẫn đến việc họ sẽ tiếp tục quay lại con đường phạm tội. Điều này cũng giải thích tại sao tỉ lệ tái phạm lại gia tăng trong giai đoạn hiện nay.
Từ những phân tích trên đây có thể thấy rằng, việc duy trì chế độ án treo là một việc làm đúng đắn và cần thiết. Thực tế đã chứng minh, trong những lần sửa đổi, bổ sung BLHS trước đây đã từng có tranh cãi về việc nên duy trì án treo hay không, cuối cùng các nhà làm luật thấy rằng không thể bỏ được chế định án treo. Chế định án treo đã tồn tại liên tục từ khi nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình thành cho tới nay. Việc áp dụng án treo đúng pháp luật, không những không làm mất đi tính nghiêm minh của pháp luật mà ngược lại nó còn có một vai trò rất lớn trong việc giáo dục cải tạo người phạm tội có thể nhanh chóng khắc phục, sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Theo nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18-10-1990 của HĐTP TANDTC hướng dẫn về việc áp dụng án treo Điều 44 BLHS (năm 1985) thì ý nghĩa của án treo là:
– Án treo có tác dụng khuyến khích người bị kết án với sự giúp đỡ tích cực của xã hội, tự lao động cải tạo để trở thành người lương thiện, đồng thời cảnh cáo họ là nếu trong thời gian thử thách mà phạm tội mới do vô ý và bị phạt tù hoặc phạm tội mới do cố ý thì họ phải chấp hành hình phạt tù đã được hưởng án treo của bản án trước.
– Án treo là một trong những biểu hiện cụ thể của phương châm trừng trị kết hợp với giáo dục và tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam. Áp dụng đúng đắn các quy định về án treo sẽ có tác dụng tốt là không bắt người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội; nhưng nếu áp dụng không đúng thì sẽ gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt như: không phát huy được tác dụng tích cực của án treo là khuyến khích người bị kết án tự cải tạo để trở thành người tốt, không thể hiện được tính công minh của pháp luật, không được nhân dân đồng tình ủng hộ, không đề cao được tác dụng riêng và phòng ngừa chung.
Án treo còn có tác dụng cảnh tỉnh, nhắc nhở người phạm tội, cũng như những người xung quanh lấy đó làm bài học để cố gắng tránh xa những cạm bẫy của đời thường, tránh được việc phạm tội. Đồng thời án treo cũng có tác dụng thu hút một bộ phận dân cư tham gia và việc giúp đỡ, giáo dục, giám sát người được hưởng án treo trong thời gian thử thách, làm cho họ không phân biệt, xa lánh người bị kết án mà tiến lại gần gũi, giúp đỡ họ để họ cải tạo tốt hơn và sớm hoà nhập với cộng đồng.
Với việc áp dụng án treo sẽ giúp cho nhà nước giảm bớt được chi phí trong công tác cải tạo, giáo dục người phạm tội mà vẫn đạt kết quả tốt.
4. Các căn cứ để cho hưởng án treo
Những căn cứ để áp dụng án treo đối với người bị phạt tù là những yêu cầu, đòi hỏi bắt buộc do pháp luật hình sự quy định đối với người đó, mà chỉ khi nào có đầy đủ những căn cứ này thì tòa án mới được áp dụng án treo đối với người đó.
Theo quy định của Khoản 1 điều 60 Bộ luật hình sự, căn cứ vào những điều kiện sau để tòa quyết định cho hay không cho bị cáo hưởng án treo:
– Về mức phạt tù không quá 3 năm, không phân biệt tội gì.
– Về nhân thân, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
– Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên.
– Thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hình phạt tù.
4.1. Về mức hình phạt tù
Mức hình phạt tù là căn cứ đầu tiên để toà án xem xét cho người bị kết án tù có được hưởng án treo hay không.
Người bị xử phạt tù không quá 3 năm, không phân biệt tội gì có thể được xem xét cho hưởng án treo. Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể được hưởng án treo.
Khi toà án tuyên mức hình phạt tù phải dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, trên cơ sở tuân thủ những căn cứ để quyết định hình phạt, đồng thời tuân thủ những nguyên tắc của pháp luật hình sự Việt Nam để áp dụng hình phạt cho từng trường hợp cụ thể. Tránh trường hợp vì có ý định trước là sẽ cho người bị kết án hưởng án treo nên Tòa tuyên mức án thấp hơn thời hạn 3 năm tù giam để cho người đó được hưởng án treo; hoặc đáng lẽ bị cáo được hưởng án treo nhưng ý định từ trước không cho hưởng án treo nên tuyên mức án cao hơn 3 năm để không cho hưởng án treo.
Khoản 1, điều 60 của BLHS 1999 quy định mức phạt tù không quá 3 năm, không phân biệt tội gì, tuy nhiên trên thực tế xét xử, thường chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng vì những tội này thường nằm ở mức phạt tù không quá 3 năm.
4.2. Về nhân thân người phạm tội
Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu, các đặc tính thể hiện bản chất xã hội của người thực hiện hành vi phạm tội. Khi xem xét nhân thân người phạm tội với vai trò là một trong các cơ sở của việc quy định TNHS thì độ tuổi chịu TNHS, tiền án, tiền sự của người phạm tội và một số đặc điểm khác thuộc nhân thân người phạm tội là những vấn đề rất quan trọng (Một số vấn đề về nhân thân người phạm tội – Nguyễn Thị Thanh Thuỷ – Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5/2001).
Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nguyên nhân thực hiện tội phạm. Cụ thể là khuynh hướng thể hiện tính chống đối xã hội của một con người cụ thể, trước hết là động cơ xử sự của người đó trong sự tác động qua lại với môi trường và hoàn cảnh thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm. Ở giai đoạn điều tra, những hiểu biết về nhân thân người phạm tội cho phép cơ quan điều tra có cơ sở để xác định phương pháp, phương hướng và chiến thuật điều tra để đề xuất và kiểm tra các giả thuyết điều tra của mình; Ở giai đoạn xét xử, các tài liệu về nhân thân người phạm tội là cơ sở quan trọng của việc truy cứu TNHS và quyết định hình phạt (lượng hình); Ở giai đoạn thi hành án, nhân thân người phạm tội là căn cứ để xác định chế độ giam giữ, cải tạo, giáo dục người phạm tội. (Nhân thân người phạm tội với việc quy định TNHS – Nguyễn Thị Thanh Thuỷ – Tạp chí toà án nhân dân số 8/2005).
Theo Nghị quyết số 01/ 2007/ NQ-HĐTP ngày 2-10-2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt có quy định: “Người được hưởng án treo phải có nhân thân tốt, được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng”.
Khi xem xét về nhân thân người phạm tội, trước hết cần xác định độ tuổi chịu TNHS của người phạm tội.
Đối với việc xét cho hưởng án treo thì độ tuổi là một vấn đề hết sức quan trọng. Án treo với mục đích là khuyến khích người phạm tội tự cải tạo và sửa chữa bản thân, đồng thời cũng tạo điều kiện cho người phạm tội học tập, hoà nhập với xã hội. Việc áp dụng án treo đối với những người còn ở lứa tuổi vị thành niên, những người trẻ tuổi khi họ mắc sai lầm là việc hết sức đúng đắn và có tác dụng lớn trong việc cải tạo. Tạo điều kiện cho họ không những có cơ hội làm lại cuộc đời, tiếp tục học tập, và làm việc, đóng góp sức mình cho đất nước.
Vấn đề thứ hai khi xem xét tới nhân thân người phạm tội đó là xem xét người phạm tội đã có hay chưa có tiền án, tiền sự.
Tiền án là việc một người đã từng bị kết án về một tội danh được quy định trong bộ luật hình sự mà chưa được xóa án tích theo quy định tại các điều 64, 65, 66, 67 của BLHS 1999.
Tiền sự là việc một người đã bị xử lí vi phạm hành chính, bị xử lí kỉ luật theo đúng quy định của pháp luật, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lí vi phạm hành chính, xử lí kỉ luật.
Việc xem xét một người đã có hay chưa có tiền án, tiền sự là một trong những cơ sở quan trọng, cần thiết để Toà án cân nhắc, đánh giá nhằm xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do chủ thể tội phạm đã thực hiện, cũng như xem xét khả năng tự cải tạo của người phạm tội để từ đó Toà án ra quyết định hình phạt và ra quyết định cho hưởng án treo sau khi đã ra quyết định hình phạt.
Ngoài ra, một số đặc điểm khác thuộc về nhân thân như đặc điểm về lối sống của người phạm tội (sử dụng các chất có cồn hoặc các chất kích thích khác); đặc điểm về ý thức của người phạm tội (ý thức được việc mình phạm tội hay không); đặc điểm về thái độ, cách ứng xử của người phạm tội sau khi thực hiện tội phạm (tự thú, thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả…).
Tóm lại, khi xem xét để quyết định cho hưởng án treo thì Toà án phải dựa trên quan điểm toàn diện, hệ thống cũng như trong từng trường hợp cụ thể về người phạm tội. Mặt khác, khi áp dụng những căn cứ về nhân thân đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung và ý nghĩa pháp lý của từng căn cứ, cũng như mối liên hệ giữa các căn cứ này với nhau để có thể áp dụng được một cách đúng đắn điều kiện về nhân thân người phạm tội để có thể đưa ra được một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội cũng như biện pháp thi hành hình phạt tù một cách có hiệu quả để đạt được mục đích cải tạo, giáo dục, răn đe người phạm tội cũng như mục đích phòng chống tội phạm nói chung.
4.3. Có nhiều tình tiết giảm nhẹ
Các tình tiết giảm nhẹ đã được xem xét để quyết định hình phạt vẫn được xem xét cùng với các căn cứ khác để quyết định việc cho hoặc không cho hưởng án treo( Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18 – 10 – 1990).
Các tình tiết giảm nhẹ để xem xét cho hưởng án treo là những tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 cũng như các tình tiết giảm nhẹ được toà án xác định trong từng vụ án cụ thể. Ngoài ra, các tình tiết giảm nhẹ còn được ghi nhận trong Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về Phần chung của BLHS năm 1999.
Tại điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đã bỏ một số tình tiết giảm nhẹ mà Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định; cụ thể những tình tiết sau đây:
– Phạm tội vì bị người khác chi phối về mặt vật chất, công tác hay các mặt khác (điểm đ khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985).
– Phạm tội do trình độ nghiệp vụ non kém (điểm g khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985).
Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 5-7-2000 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an “Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội” (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT), thì vẫn có thể áp dụng những tình tiết giảm nhẹ nói trên đối với người phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau thời điểm này mới bị xét xử, nếu họ có những tình tiết giảm nhẹ đó.
Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 cũng quy định bổ sung một tình tiết giảm nhẹ mới; cụ thể là những tình tiết sau đây:
– Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả (Điểm b khoản 1);
– Người phạm tội đã lập công chuộc tội (điểm r khoản 1);
– Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác (điểm s khoản 1).
Mặc dù những tình tiết giảm nhẹ nói trên được Bộ luật hình sự năm 1999 quy định bổ sung, nhưng trong thực tế thì các Toà án đã áp dụng những tình tiết này khi quyết định hình phạt theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01-89/HĐTP ngày 19 – 4 -1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự”. Tuy nhiên, nay Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định bổ sung các tình tiết này vào khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT, thì đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau thời điểm này mới bị xét xử và nếu họ có các tình tiết giảm nhẹ này, thì áp dụng các điểm tương ứng của khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với họ.
Mục 5 của Nghị quyết số 01/2000/NQ – HĐTP cũng nêu rõ: Để áp dụng đúng các điểm r, s khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 cần chú ý:
– “Đã lập công chuộc tội” là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm cho đến trước khi bị xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm), người phạm tội không những ăn năn hối cải, tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm do họ thực hiện, mà họ còn có những hành động giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn các tội phạm khác, tham gia phát hiện tội phạm, bắt kẻ phạm tội, có hành động thể hiện sự quên mình vì lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của người khác… được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận.
– Người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu học tập hoặc công tác là người được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sỹ thi đua…..
Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”. Theo các văn bản hướng dẫn trước đây của Toà án nhân dân tối cao và của Toà án nhân dân tối cao với các cơ quan hữu quan khác cũng như thực tiễn xét xử trong thời gian qua, thì các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:
– Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước;
– Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là liệt sỹ;
– Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;
– Người bị hại cũng có lỗi;
– Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;
– Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;
– Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;
– Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.
Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.
Theo hướng dẫn mới nhất của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao tại Nghị quyết 01/2007/NQ – HĐTP trong đó có hướng dẫn về án treo có quy định: Khi xem xét về điều kiện có nhiều tình tiết giảm nhẹ để xét cho hưởng án treo thì người phạm tội phải “có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trong trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên”.
Việc xem xét các tình tiết giảm nhẹ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng án treo. Bởi lẽ, một người có nhiều tình tiết giảm nhẹ cho thấy được khả năng tự giáo dục, cải tạo của họ cũng như khả năng có thể gây nguy hiểm cho xã hội nếu như để họ ngoài xã hội là cao hay thấp. Trên cơ sở đánh giá, xem xét các tình tiết giảm nhẹ, toà án có thể ra quyết định hình phạt cũng như xem xét cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo hay không.
Đối với quy định : “ Trong trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên”, thì cũng cần lưu ý, với người có nhiều tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 48 BLHS thì dù họ có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có thể hơn tình tiết tăng nặng hai tình tiết trở lên, thì việc áp dụng án treo với những người này cũng cần phải rất chặt chẽ, trên tinh thần chung là rất hạn chế việc xét hưởng án treo đối với những người này. Vì với người có nhiều tình tiết tăng nặng, cho thấy được phần nào thái độ phạm tội, ý thức phạm tội của họ cũng như khả năng tự cải tạo của họ là rất khó. Cần phải cách ly họ ra khỏi xã hội để đảm bảo được mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
4.4. Thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hình phạt tù
Khi xét việc cho người bị kết án được hưởng án treo, Hội đồng xét xử chủ yếu dựa vào 3 căn cứ mức phạt tù, nhân thân của người bị kết án và các tình tiết giảm nhẹ, phân tích từng căn cứ và đánh giá các căn cứ đó, đồng thời đối chiếu với yêu cầu phòng ngừa và chống tội phạm ở từng loại tội trong môi trường xã hội cụ thể của từng thời kì để có thể kết luận về khả năng tự giáo dục, cải tạo của người bị kết án phạt tù với sự giúp đỡ của gia đình và xã hội để từ đó xác định chính xác việc bắt người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù hay cho họ được hưởng án treo. Chỉ khi nào xét thấy nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm mà ngược lại, còn có tác dụng tốt cho việc cải tạo, khuyến khích người phạm tội sửa chữa thì mới cho họ hưởng án treo. Cần tránh tình trạng cho người được hưởng án treo một cách tuỳ tiện, thiếu căn cứ, không được nhân dân đồng tình ủng hộ và làm giảm tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung của án treo.
Cần lưu ý rằng, đối với những người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì chỉ cho hưởng án treo khi thời gian đã bị tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù.
5. Thời gian thử thách của án treo và cách tính thời gian thử thách của án treo
5.1. Thời gian thử thách của án treo.
Trước đây, theo Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14-2-1946 về việc tổ chức toà án quân sự quy định: “… Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị toà án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới…”. Như vậy, thời gian thử thách của án treo cố định là 5 năm.
Thực tiễn vận dụng án treo đã chứng tỏ việc ấn định thời gian thử thách cố định là cứng nhắc, không công bằng. Bởi vì, thời gian răn đe đối với người phạm tội bị kết án tù ở mức độ thấp và thời gian răn đe đối với người phạm tội bị kết án tù ở mức độ cao hơn lại bằng nhau. Ví dụ: A bị tòa án phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm cũng bằng thời gian thử thách của B bị phạt tù 5 năm. Điều này rõ ràng là bất hợp lí đối với trường hợp của A. Có toà án muốn tránh sự bất bình đẳng đó, đã tự tuyên thời gian thử thách của án treo tuỳ theo từng trường hợp dài ngắn khác nhau, không tuyên cố định 5 năm như Sắc lệnh số 21/SL đã quy định. Trong phần đánh giá sơ bộ tình hình áp dụng án treo tại Thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961, Toà án nhân dân tối cao không coi đây là nhược điểm mà cho đó là sự linh hoạt: “Bên cạnh những nhược điểm và thiếu sót một số toà án cũng đã áp dụng những biện pháp linh hoạt như:
… Một số toà án đã không áp dụng thời gian cố định 5 năm như trước mà đã ấn định thời gian thử thách dài ngắn tuỳ theo hình phạt nặng nhẹ và tuỳ theo bản chất can phạm” (Thời gian thử thách của án treo theo luật hình sự Việt Nam – Phạm Thị Bích Học – Tạp chí Luật học số 1/1997).
Tại Thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961, Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn cách xác định thời gian thử thách của án treo cụ thể hơn: “ Khi cho hưởng án treo, toà án phải ấn định một thời gian thử thách trong khoảng từ 1 đến 5 năm dài ngắn tuỳ theo hình phạt và tuỳ theo bản chất của can phạm. Thời gian thử thách nói chung phải dài hơn mức hình phạt chính”. Theo đó, thời gian thử thách của án treo có thể được toà án tuyên bằng hoặc thậm chí ít hơn mức phạt tù đã cho hưởng án treo, điều này là bất hợp lí. Hướng dẫn này được sử dụng cho đến khi ban hành BLHS năm 1985.
* Trong BLHS 1985, thời gian thử thách của án treo được quy định tại khoản 1 Điều 44: “Khi xử phạt tù không quá năm năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”.
Trên thực tế đã có nhiều Công văn, Nghị quyết được ban hành trong đó có hướng dẫn áp dụng khoản 1 điều 44 như: Nghị quyết 02/HĐTP ngày 5-1-1986, Công văn số 108/HĐNN ngày 19-6-1987, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988. Tuy nhiên, những hướng dẫn này có nhiều điểm chưa hợp lý, chưa thể hiện được ý nghĩa, tầm quan trọng của thời gian thử thách của án treo. Ví dụ: Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988 có hướng dẫn: “… Thông thường thì thời gian thử thách phải bằng hoặc dài hơn hình phạt đã tuyên nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng không được dưới 1 năm hoặc quá 5 năm”, với hướng dẫn như vậy, người áp dụng có thể hiểu rằng trong một số trường hợp cụ thể, thời gian thử thách của án treo có thể bằng hoặc thấp hơn hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Nếu thời gian thử thách của án treo lại có thể thấp hơn mức hình phạt tù thì ý nghĩa đích thực của án treo cũng bị hạn chế bởi không thể có kết luận đúng đắn về người phạm tội, những nỗ lực tự giác cải tạo giáo dục của người đó trong điều kiện thời gian thử thách ít hơn hình phạt tù.
Để khắc phục những nhược điểm trong các văn bản hướng dẫn trước đây, Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 44 BLHS đã thống nhất: “Theo khoản 1 Điều 44 BLHS thì thời gian thử thách của án treo là từ 1 năm đến 5 năm, bất cứ trương hợp nào cũng không được dưới 1 năm hoặc quá 5 năm và không được ít hơn mức hình phạt tù. Thời gian thử thách của án treo là bắt buộc, không được cho hưởng án treo mà lại miễn thời gian thử thách”.
* BLHS 1999 ra đời quy định về thời gian thử thách của án treo tại khoản 1 Điều 60: “Khi xử phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm”.
Để hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng thời gian thử thách của án treo, Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ban hành ngày 2-10-2007 quy định như sau:
“… Khi cho người xử phạt tù được hưởng án treo trong mọi trường hợp toà án phải ấn định thời gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm và phân biệt như sau:
a, Trường hợp người bị xử phạt tù không bị tạm giam thì thời gian thử thách bằng 2 lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 1 năm và không quá 5 năm.
b, Trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì lấy mức hình phạt tù trừ đi thời gian đã bị tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành. Thời gian thử thách trong trường hợp này bằng 2 lần mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành nhưng không được dưới 1 năm và không được quá 5 năm.
c, Trong trường hợp đặc biệt thì Toà án có thể ấn định thời gian ngắn hơn mức được hướng dẫn tại các điểm a và b nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.”
Như vậy, Nghị quyết trên đã hướng dẫn một cách cụ thể từng trường hợp giúp cho Toà án quyết định thời gian thử thách của án treo được chính xác, đúng đắn hơn.
5.2. Cách tính thời gian thử thách
Chế định án treo chỉ có ý nghĩa và phát huy đúng tác dụng của nó khi trong bản án cho hưởng án treo có một thời gian thử thách được tuyên đúng, đủ cho người phạm tội tự khẳng định mình về tính tự cải tạo, giáo dục để hoà nhập với cộng đồng. Qua đó, toà án cũng có điều kiện để kiểm tra sự đúng đắn trong việc áp dụng án treo trên cơ sở phân tích, đánh giá những thông tin cần thiết từ hai chiều (phía cơ quan hoặc tổ chức xã hội và phía người phạm tội) về thái độ cải tạo, tu dưỡng của người phạm tội. Chính vì vậy mà cách tính thời gian thử thách như thế nào là hợp lí là một việc hết sức quan trọng trong việc ấn định thời gian thử thách của án treo.
Trong lịch sử phát triển của chế định án treo, cách tính thời gian thử thách có được quy định khác nhau qua từng thời kì.
Trước hết là sắc lệnh số 21/SL ngày 14-2-1946 quy định thời gian thử thách của án treo được tính “bắt đầu từ ngày tuyên án”.
Đến năm 1961 có thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Thời gian thử thách này bắt đầu từ khi bản án đã trở thành nhất định”(Hệ thống hoá luật lệ hình sự Tập I; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1975 tr.125).
Năm 1965, trong công văn số 1327/NCPL ngày 4-11-1965 gửi Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây, Toà án nhân dân tối cao lại hướng dẫn : “Thời gian thử thách có thể tính từ ngày tuyên án sơ thẩm…
Cần nói rõ ngày bắt đầu tính thời gian thử thách (trong án) để cho việc chấp hành được dễ dàng”( Hệ thống hoá luật lệ hình sự Tập I; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1975 tr.125). Một trong những lí do khiến TANDTC có sự thay đổi này là “… sẽ có tác dụng thiết thực giáo dục, ngăn ngừa ngay đối với người bị kết án. Người bị kết án sẽ hiểu rằng nếu y lại phạm tội mới trong khi chờ xét xử lại, tức là y đã phạm tội mới trong thời gian thử thách…” (Hệ thống hoá luật lệ hình sự Tập I; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1975 tr.132).
Ở các giai đoạn này, việc tồn tại các cách tính thời gian thử thách của án treo cũng khác nhau cho thấy thiếu sự thống nhất trong thực tiễn xét, điều này rất dễ dẫn đến sự tuỳ tiện trong xét xử.
Đến khi BLHS 1985 được ban hành và có hiệu lực pháp luật thì cách tính thời gian thử thách của án treo cũng chưa được quy định cụ thể trong luật. Việc luật không quy định cụ thể cách tính thời gian thử thách của án treo đã gây không ít khó khăn trong công tác xét xử. Việc tính thời gian thử thách của án treo như thế nào lại phải dựa vào các văn bản hướng dẫn áp dụng BLHS.
Trong văn bản hướng dẫn đầu tiên ngay sau khi BLHS 1985 có hiệu lực pháp luật (Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, Toà án NDTC đã hướng dẫn: “Thời gian thử thách là từ một năm đến năm năm, tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc bản án phúc thẩm cho hưởng án treo mới)”( Hệ thống các văn bản cần thiết cho công tác kiểm sát. Tập I. VKSNDTC xuất bản năm 1991, tr.196). Cách tính này giống với cách tính theo hướng dẫn tại Thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961. Tuy nhiên, việc hướng dẫn như vậy lại gặp phải khó khăn. Đó là trường hợp người bị toà án cấp sơ thẩm phạt tù nhưng cho hưởng án treo, bản án đó bị kháng nghị, kháng cáo. Trong thời gian chờ đợi toà phúc thẩm xét xử lại, người phạm tội lại phạm tội mới. Nếu toà án không coi đây là phạm tội mới trong thời gian thử thách thì sẽ không công bằng. Người bị kết án trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm sẽ không bị coi là phạm tội trong thời gian thử thách nên không được buộc họ thi hành hình phạt tù mà họ đã được hưởng án treo. Như vậy, sẽ không đảm bảo được yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tái phạm. Chính vì vậy, thời gian sau đó hướng dẫn này đã được thay thế bằng thông tư số 01/NCPL ngày 6-4-1988, Toà án NDTC đã sửa lại: “Thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày tuyên án treo đầu tiên, cụ thể như sau:
– Nếu xử sơ thẩm thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án và phải ghi rõ ngày, tháng, năm. Nếu bị cáo đang bị tạm giam thì phải tuyên tha ngày bị cáo. Nếu án sơ thẩm bị kháng cáo hay kháng nghị (kể cả trường hợp án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm) mà khi xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm vẫn y án treo của án sơ thẩm thì thời gian thử thách cũng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nếu án sơ thẩm phạt tù giam, án phúc thẩm hoặc án giám đốc thẩm cải án sơ thẩm cho bị cáo hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm”( Hệ thống các văn bản cần thiết cho công tác kiểm sát. Tập I. VKSNDTC xuất bản năm 1991, tr.230).
Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988 của HĐTP TANDTC hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, tại mục II của Nghị quyết quy định về thi hành án treo (tại Điều 44 BLHS 1985), có hướng dẫn về cách tính thời gian thử thách như sau: “Thông tư số 01/NCPL ngày 6- 4-1988 có hướng dẫn là thời gian thử thách được tính từ ngày tuyên án treo đầu tiên tức là tuỳ trường hợp có thể là ngày tuyên án sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm. Cách tính này nhằm giải quyết cho người bị kết án đỡ bị thiệt thòi vì xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thường chậm. Nay Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, từ này thống nhất tính thời gian thử thách của án treo từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật…”. Hướng dẫn này lại nảy sinh những bất cập giống với hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 5-1-1986.
Như vậy, cách tính thời gian thử thách của án treo lại được sửa lại tại Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18-10-1990 của HĐTP TANDTC. Theo văn bản này, cách tính thời gian thử thách được xác định như sau: “Để phát huy tác dụng phòng ngừa của án treo, tránh tình trạng người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm hoặc phạm tội mới trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm mà không bị coi là phạm tội mới trong thời gian thử thách, từ nay thời gian thử thách của án treo tính từ ngày tuyên bản án đầu tiên cho hưởng án treo. Nghĩa là: nếu Toà án cấp sơ thẩm cho người bị kết án hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; nếu Toà án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Toà án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm; nếu cả Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đều không cho hưởng án treo, nhưng Toà án cấp giám đốc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án giám đốc thẩm; nếu Toà án sơ thẩm cho hưởng án treo, Toà án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo. nhưng Toà án cấp giám đốc thẩm lại cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm”. Hướng dẫn tại Nghị quyết này đã được áp dụng cho tới năm 2007. Có thể nói, cách tính thời gian thử thách này là hợp lí hơn cả, và phát huy được tác dụng đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2-10-2007 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt đã một lần nữa hướng dẫn cách tính thời gian thử thách của án treo như sau: “Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo; cụ thể như sau:
- a) Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Toà án cấp phúc thẩm cũng cho hưởng án treo (có thể mức hình phạt thay đổi) thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.
- b) Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Toà án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.
- c) Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Toà án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Toà án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- d) Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm bị huỷ để điều tra lại, Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần sau theo hướng dẫn tại các điểm a, b và c của tiểu mục 6.5 này” (Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2-10-2007 của HĐTP TANDTC). So với hướng dẫn tại Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18-10-1990 thì Nghị quyết này còn bổ sung thêm một trường hợp (điểm d tiểu mục 6.5), và việc quy định cách tính thời gian thử thách có phần rõ ràng hơn. Có thể nói, tính tới thời điểm này thì Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2-10-2007 là hoàn thiện nhất và hợp lí nhất từ trước tới nay. Nó đã khắc phục được mọi vướng mắc nảy sinh trong quá trình xét xử cũng như trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Ngoài ra, theo Nghị đinh 61/2000/NĐ-CP ngày 30-10-2000 của Chính phủ quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, thì đối với những người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương, thì “thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án”.
5.3. Tổng hợp hình phạt đối với người được hưởng án treo
Trong BLHS 1985 cũng như trong BLHS hiện hành và văn bản hướng dẫn mới nhất (Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2-10-2007) đều không có quy định cụ thể về việc tổng hợp hình phạt đối với người có nhiều bản án trong đó có bản án bắt phải chấp hành hình phạt tù, có bản án cho hưởng án treo, mà chỉ quy định đối với người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định bắt chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới. Còn việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp một người đã bị xét xử và phạt tù nhưng cho hưởng án treo đang trong thời gian thử thách lại bị đưa ra xét xử về một tội đã thực hiện trước (hoặc sau tội đã bị xử và cho hưởng án treo), hoặc khi hết thời gian thử thách của bản án án treo mà bị đưa ra xét xử về một tội đã thực hiện trong thời gian thử thách thì vẫn áp dụng theo Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18-10-1990 như sau:
“… 2. Người được hưởng án treo chỉ phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước nếu trong thời gian thử thách họ đã phạm tội mới do vô ý và bị phạt tù hoặc phạm tội mới do cố ý. Do đó, nếu trong thời gian thử thách, họ bị phạt tù về tội đã thực hiện trước khi bị phạt tù và được hưởng án treo thì tuỳ trường hợp, Toà án có thể cho hưởng án treo một lần nữa. Nếu Toà án không cho hưởng án treo một lần nữa và người bị kết án chấp hành hình phạt tù trong thời gian thử thách của án treo thì thời gian chấp hành hình phạt tù được tính vào thời gian thử thách của án treo. Nếu cho người bị kết án hưởng án treo một lần nữa, thì Toà án tổng hợp hình phạt tù của hai bản án và ấn định thời gian thử thách chung cho cả 2 bản án. Trong trường hợp này cần chú ý là chỉ khi hình phạt chung của hai bản án không quá 5 năm tù thì mới được cho hưởng án treo và thời gian thử thách chung cũng không dưới 1 năm, không được quá 5 năm và không được ít hơn mức hình phạt tù chung.
- Trong trường hợp sau khi hết thời gian thử thách của án treo mới phát hiện được tội phạm đã được thực hiện trong thời gian thử thách, vì việc xét xử và tổng hợp hình phạt vẫn tiến hành như trường hợp tội phạm đó được phát hiện trong thời gian thử thách của án treo. Toà án nào đã cấp giấy chứng nhận xoá án cho người bị kết án, thì Toà án đó phải ra quyết định huỷ giấy chứng nhận xoá án cấp sai”.
Việc hướng dẫn như vậy vẫn còn mang tính chất tuỳ nghi, và chung chung, phụ thuộc nhiều vào sự xét xử của Toà án. Khi xét xử, Toà án thường phải xem xét, cân nhắc, quyết định tổng hợp hình phạt đối với người được hưởng án treo trong những trường hợp sau: Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; Người được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách lại bị đưa ra xét xử về một tội đã thực hiện trước khi có bản án phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
1.4.1. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 60 BLHS 1999, việc tổng hợp hình phạt của người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách được quy định như sau: “Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này”. Như vậy, so với quy định tại khoản 5 Điều 44 BLHS 1985 thì BLHS 1999 có phần hà khắc hơn. Bởi lẽ, với BLHS 1999 thì người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách dù là phạm tội do lỗi cố ý hay vô ý, bị phạt tù hay không bị phạt tù thì họ vẫn buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án này. Còn đối với BLHS 1985 và hướng dẫn tại Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18-10-1990 thì người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách mà do lỗi vô ý và không bị phạt tù thì họ không phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước. Sự thay đổi này là hoàn toàn hợp lí và có cơ sở. Bởi lẽ, việc thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo cho thấy khả năng để ngoài xã hội để tự cải tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội của người được hưởng án treo là rất khó. Hành vi phạm tội dù với lỗi vô ý hay cố ý cũng thể hiện thái độ của người phạm tội với việc thực hiện tội phạm. Vấn đề đặt ra ở đây là Toà án có áp dụng hình phạt tù đối với người phạm tội mới trong thời gian thử thách hay không và việc tổng hợp nó như thế nào.
– Nếu tội mới mà người được hưởng án treo thực hiện bị Toà án tuyên hình phạt tù có thời hạn thì bị cáo buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt tù của bản án mới. Ví dụ: Nguyễn Văn A đã bị Toà án phạt 30 tháng tù về tội cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 4 năm. Trong thời gian thử thách, A lại phạm tội cố ý làm trái các quy định về an toàn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, Toà án phạt A 1năm tù. Toà án buộc A phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc A phải chấp hành hình phạt chung là 3 năm 6 tháng tù.
Khi tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm tội mới trong thời gian thử thách, có một số thẩm phán nhầm lẫn khi tổng hợp thời gian thử thách còn lại của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của tội mới thành hình phạt chung. Tuy nhiên, trường hợp bị cáo đã bị tạm giam thì việc trừ thời gian tạm giam về tội cũ cũng như trừ thời gian tạm giam về tội mới thì do trước đây vẫn áp dụng nghị quyết 01/HĐTP ngày 18-10-1990 nên còn tồn tại một số bất cập đó là:
+ Người phạm tội chỉ được khấu trừ thời hạn tạm giam nếu họ phạm tội mới. Nếu thời hạn tạm giam bằng hoặc dài hơn mức phạt tù thì việc Toà án tuyên án treo cho họ lại làm xấu đi tình trạng của họ.
+ Việc tồn tại song song Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18-10-1990 và khoản 2 điều 51 BLHS 1999 lại nảy sinh mâu thuẫn. Theo nghị quyết thì “thời hạn tạm giam về tội cũ và thời hạn tạm giam về tội mới được khấu trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”; còn theo khoản 2 Điều 51 thì “khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Toà án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật này”. Việc tổng hợp này nếu là hình phạt chung là dưới 30 năm thì kết quả không có gì khác nhau nhưng nếu hình phạt chung lớn hơn hoặc bằng 30 thì kết quả lại có sự khác biệt rất lớn. Ví dụ: A phạm tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. A bị tạm giam 2 tháng. Toà án xử A 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Trong thời gian thử thách, A lại phạm tội cố ý giết người và cướp tài sản. A bị Toà án xử 20 năm về tội cố ý giết người, 15năm về tội cướp tài sản (A bị tạm giam 4 tháng). Hình phạt chung là 30 năm.
Theo cách tổng hợp hình phạt của Nghị quyết trên thì A bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước là 30 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt tù của bản án mới là 30 năm tù, trừ đi thời hạn tạm giam của 2 bản án là 6 tháng. Hình phạt chung A phải chấp hành là 29 năm 6 tháng.
Theo cách tổng hợp hình phạt của BLHS 1999 thì A bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước là 30 tháng tù. Trừ đi 2 tháng tạm giam. Hình phạt còn lại phải chấp hành của bản án cũ là 28 tháng tù. Hình phạt tù của bản án mới là 30 năm tù. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án A phải chấp hành là 30 năm tù. Trừ đi thời hạn tạm giam là 4 tháng Hình phạt còn lại A phải chấp hành là 29 năm 8 tháng.
Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2-10-2007 có hướng dẫn về án treo đã thống nhất cách tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách. Theo đó, sau khi tuyên án tù cho tội mới, Toà án sẽ tổng hợp với hình phạt tù còn lại của bản án trước (thời gian tạm giam của bản án trước được trừ vào hình phạt của bản án trước). Sau đó, lấy hình phạt tổng hợp trừ đi thời gian tạm giam của tội mới thành hình phạt còn lại buộc bị cáo phải chấp hành.
– Nếu tội mới bị Toà án tuyên phạt cải tạo không giam giữ thì Toà án phải buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và phải đổi hình phạt mới từ cải tạo không giam giữ thành tù có thời hạn để tổng hợp hình phạt chung theo nguyên tắc cứ 3 ngày cải tạo không giam giữ bằng 1 ngày tù. Ví dụ: Lê Văn B phạm tội buôn lậu, bị Toà án xét xử 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 4 năm. Trong thời gian thử thách B lại phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản. Toà án sơ thẩm phạt B 3 năm cải tạo không giam giữ. Toà án buộc B phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước là 2 năm. Đổi hình phạt cải tạo không giam giữ 3 năm thành 1 năm phạt tù. Tổng hợp hình phạt của 2 bản án B phải chấp hành hình phạt chung là 3 năm tù.
– Nếu tội mới bị Toà án tuyên không phải là cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn:
+ Nếu hình phạt của bản án mới là phạt tiền hoặc trục xuất thì theo Điều 51 BLHS hiện hành và hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2-10-2007 Toà án buộc người được hưởng án treo phạm tội trong thời gian thử thách phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước đồng thời không tổng hợp hình phạt tù với phạt tiền hoặc trục xuất mà buộc người bị kết án phải chấp hành đồng thời hai bản án, hình phạt tù của bản án trước và hình phạt của bản án mới.
+ Nếu tội mới là tù chung thân hoặc tử hình thì theo Điều 50 BLHS 1999 việc tổng hợp hình phạt được tiến hành theo nguyên tắc thu hút. Tức là, nếu hình phạt của tội mới là tù chung thì hình phạt chung của 2 bản án là tù chung thân, nếu hình phạt của tội mới là tử hình thì hình phạt chung của 2 bản án là tử hình.
1.4.2. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách lại bị đưa ra xét xử về một tội đã thực hiện trước khi có bản án treo.
Việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp này thì ngay cả trong BLHS 1985 và BLHS hiện hành đều không đề cập tới. Cho tới nay vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về trường hợp này, do vậy, có rất nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề này. Nhưng thực tiễn xét xử hiện nay vẫn áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18-10-1990 là hoàn toàn đúng đắn. Cụ thể, theo hướng dẫn tại Nghị quyết này thì người đang trong thời gian thử thách của án treo, họ bị phạt tù về tội đã thực hiện trước khi bị phạt tù và cho hưởng án treo thì tuỳ từng trường hợp, Toà án có thể cho hoặc không cho hưởng án treo một lần nữa.
+ Nếu Toà án không cho hưởng án treo một lần nữa và người bị kết án chấp hành hình phạt tù trong thời gian thử thách của án treo thì thời gian chấp hành hình phạt tù được tính vào thời gian thử thách của án treo; Ví dụ: A bị phạt 2 năm tù về tội trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 4 năm. Đang trong thời gian thử thách, A bị Toà án đưa ra xét xử về tội cướp giật tài sản. A bị tuyên phạt 3 năm tù. Trong trường hợp này, A sẽ vừa phải chấp hành đồng thời hình phạt tù của bản án sau, vừa phải chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo của bản án trước. Và thời gian phạt tù được tính và thời gian thử thách của án treo.
+ Nếu cho người bị kết án được hưởng án treo một lần nữa, thì Toà án tổng hợp hình phạt tù của hai bản án và ấn định thời gian thử thách chung cho cả hai bản án. Trong trường hợp này cần chú ý, hình phạt chung của hai bản án không vượt quá 5 năm tù thì mới được cho hưởng án treo và thời gian thử thách chung không được dưới 1 năm, không được quá 5 năm và không được ít hơn mức phạt tù chung. Ví dụ: A bị Toà án xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo vì tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Đang trong thời gian thử thách của án treo, A lại bị đưa ra xét xử về tội buôn lậu. Toà án xử phạt A 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Tổng hợp hình phạt chung của 2 bản án đối với A là 36 tháng tù. Thời gian thử thách chung cho cả hai bản án là 5 năm.
Việc tổng hợp hình phạt đối với người được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách lại bị đưa ra xét xử về một tội đã thực hiện trước khi có bản án phạt tù nhưng cho hưởng án treo, mà hình phạt của bản án mới là phạt tiền, trục xuất, tù chung thân, tử hình thì cách tổng hợp vẫn được áp như trong trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách. Nếu hình phạt của bản án mới là cải tạo không giam giữ thì thời gian thử thách của án treo được tính vào thời gian cải tạo không giam giữ.
Trên đây là cách tổng hợp hình phạt đối với người được hưởng án treo. Qua nghiên cứu thực tiễn cũng như trong BLHS thì theo chúng tôi, việc tổng hợp hình phạt đối với người được hưởng án treo, áp dụng theo Nghị quyết 01/ HĐTP ngày 18-10-1990 cho đến nay vẫn phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, thời gian tới, chúng ta cần phải quy định nó cụ thể hơn, đầy đủ hơn, chặt chẽ hơn và nên thể chế hoá vào trong BLHS hiện hành.
6. Điều kiện thử thách của án treo.
Án treo không phải là một loại hình phạt mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Chính vì vậy, án treo chỉ có thể phát huy được vai trò của nó khi người được hưởng án treo tuân thủ đầy đủ các điều kiện trong thời gian thử thách của án treo.
Qua từng thời kì, từng giai đoạn khác nhau trong lịch sử phát triển của chế định án treo thì điều kiện thử thách cũng có những thay đổi khác nhau.
* Trước đây, điều kiện thử thách của án treo được quy định tại Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14-2-1946: “Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị Toà án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới thì bản án đã tuyên sẽ huỷ đi, coi như không có”. Như vậy, theo quy định của Sắc lệnh thì nếu trong thời gian thử thách là 5 năm mà người được hưởng án treo không bị Toà án quân sự tuyên án về bất cứ tội mới nào thì người được hưởng án treo đó sẽ được miễn việc chấp hành hình phạt tù và coi như chưa có tiền án.
* Ngày 1-12-1961 TANDTC ra thông thư số 2308/ NCPL có một số thay đổi về điều kiện thử thách của án treo: “Nếu hết thời gian thử thách mà người bị phạt án treo không phạm tội gì mới thì sẽ coi như không có tiền án… Nếu phạm tội mới không cùng tính chất và nhẹ hơn tội cũ thì hết thời gian thử thách, bản án treo cũ cũng vĩnh viễn không phải chấp hành nữa”. Có nghĩa là, nếu trong thời gian thử thách người được hưởng án treo không phạm tội mới thì sẽ đương nhiên được miễn chấp hành hình phạt tù và “coi như không có tiền án”. Và nếu họ không phạm tội mới có cùng tính chất và nặng hơn tội cũ thì họ cũng vĩnh viễn không phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo cũ.
Như vậy, quy định như Thông tư số 2308/ NCPL là chưa hợp lí. Bởi vì, nếu trong thời gian thử thách của án treo mà người được hưởng án treo lại phạm một tội mới, cho dù là tội đó không cùng tính chất và nhẹ hơn tội cũ thì cũng cho thấy khả năng tự giáo dục và cải tạo của họ trong môi trường xã hội bình thường là không có hiệu quả, không phát huy được vai trò cũng như tính tích cực của án treo.
* BLHS 1985 được ban hành có quy định điều kiện thử thách của án treo tại khoản 5 Điều 44 BLHS: “Nếu trong thời gian thử thách, người bị án treo phạm tội mới và bị xử phạt tù thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định ở khoản 2 Điều 42”.
Việc quy định như trên chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao tác dụng giáo dục và phòng ngừa của án treo nên ngày 28-12-1989 Quốc hội đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS trong đó đã sửa đổi khoản 5 Điều 44 như sau: “ Nếu trong thời gian thử thách, người bị án treo phạm tội mới do vô ý và bị phạt tù hoặc phạm tội mới do cố ý thì Toà án bắt buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước”. Theo đó, quy định như vậy có phần nghiêm khắc hơn so với khoản 5 Điều 44 BLHS 1985 chưa sửa đổi, bổ sung. Nhưng xét yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm thì quy định điều kiện thử thách của án treo như vậy chưa thật sự đầy đủ.
* Trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nước ta, nhất là BLHS 1985 cũng như những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đã đạt được, BLHS 1999 đã ra đời. Trong BLHS 1999, điều kiện thử thách của án treo được quy định tại khoản 5 Điều 60 với sửa đổi như sau: “Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này”. Nghĩa là, trong thời gian thử thách của án treo, nếu người được hưởng án treo phạm tội mới, không phân biệt do cố ý hay vô ý, bị phạt tù hay không bị phạt tù thì Toà án vẫn quyết định buộc họ phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước. Có thể thấy rằng, điều kiện thử thách của án treo được quy định tại BLHS 1999 nghiêm khắc hơn so với quy định tại BLHS 1985, giống với tinh thần của Điều 10 Sắc lệnh số 21/ NCPL ngày 14-2-1946 trước đây.
Theo tác giả, quy định như vậy là hợp lí, thể hiện được tính công minh của pháp luật, đề cao được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung của án treo.
Tóm lại, Luật sư ACC vừa cung cấp đến quý bạn đọc bài viết liên quan đến vấn đề “Chế định án treo theo quy định của pháp luật”. Nếu bạn cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác, Luật sư ACC luôn sẵn sàng hỗ trợ. Với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm, chúng tôi cam kết cung cấp giải pháp pháp lý hiệu quả và phù hợp nhất cho khách hàng.
