Quyền được luật sư bào chữa là một quyền cơ bản của công dân, đặc biệt là khi họ đang trong tình trạng bị tạm giam. Việc gặp luật sư giúp người bị tạm giam được bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và đối diện với tố tụng một cách công bằng. Hãy cùng Luật sư ACC tìm hiểu thông qua bài viết thủ tục luật sư vào gặp người bị tạm giam dưới đây nhé !

Nội dung bài viết
1. Quy định pháp luật về việc người bào chữa gặp bị can, bị cáo bị tạm giam
Khoản 1 Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, theo đó, người bào chữa có quyền: “Gặp, hỏi người bị buộc tội”.
Điều 80 Bộ luật Tố Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam:
“1. Để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ luật sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân.
2. Cơ quan quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam phải phổ biến nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh. Trường hợp phát hiện người bào chữa vi phạm quy định về việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp và lập biên bản, báo cáo người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”.
Quyền gặp bị can, bị cáo của Luật sư chỉ phát sinh khi Luật sư đã hoàn thiện thủ tục đăng ký bào chữa. Cuộc gặp, làm việc riêng, Luật sư có quyền chủ động thực hiện. Theo đó cơ sở giam giữ phải giải quyết yêu cầu gặp mặt của người bào chữa.
2. Thủ tục người bào chữa gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam
Căn cứ Điều 80 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, để gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam, Luật sư cần xuất trình giấy tờ sau:
– Văn bản thông báo người bào chữa;
– Thẻ luật sư, Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân.
Như vậy, để gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam, Luật sư chỉ cần xuất trình 02 loại giấy tờ trên. Cơ quan quản lý bị can, bị cáo đang bị tạm giam không được yêu cầu Luật sư xuất trình bất kỳ loại giấy tờ nào khác.
Điều 12 Thông tư 46/2019/TT-BCA quy định về tổ chức cho người bào chữa gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam. Theo đó khi người bào chữa đề nghị gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thì cơ quan đang quản lý người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thực hiện theo quy định tại Điều 80 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Cụ thể:
“1. Khi người bào chữa đề nghị gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt và đã xuất trình văn bản thông báo người bào chữa và Thẻ luật sư, Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân thì cơ quan đang thụ lý vụ án phải bố trí để người bào chữa gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt tại trụ sở của mình, phổ biến cho người bào chữa biết quy định của trụ sở Cơ quan điều tra và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh.
Khi người bào chữa đề nghị gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thì cơ quan đang quản lý người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thực hiện theo quy định tại Điều 80 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Cơ quan đang quản lý người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan đang thụ lý vụ án biết việc gặp của người bào chữa để cử người phối hợp với cơ sở giam giữ giám sát cuộc gặp nếu xét thấy cần thiết.
- Việc tổ chức cho người bào chữa gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam được thực hiện theo quy định tại Điều 10 Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về quan hệ phối hợp giữa cơ sở giam giữ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam.
- Người bào chữa có thể thông báo trước việc gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra đang thụ lý vụ án. Việc gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam của người bào chữa được thực hiện trong giờ làm việc của cơ sở giam giữ. Cơ quan điều tra, Cơ sở giam giữ không được hạn chế số lần và thời gian trên một lần gặp của người bào chữa với người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam. Người bào chữa phải tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, các văn bản hướng dẫn thi hành và nội quy cơ sở giam giữ”.
Điều 10 Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC năm 2018 quy định về quan hệ phối hợp giữa cơ sở giam giữ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam quy định về Việc tổ chức cho người bào chữa gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam quy định:
“1. Việc phối hợp, tổ chức cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam gặp người bào chữa thực hiện theo quy định tại Điều 80 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 22, Điều 34 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam.
- Khi nhận được văn bản thông báo người bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam của cơ quan đang thụ lý vụ án thì cơ sở giam giữ tổ chức cho người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật.
3.Trường hợp cần phải giám sát cuộc gặp thì Thủ trưởng, người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phối hợp với cơ sở giam giữ tổ chức giám sát. Nếu người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người bào chữa có hành vi vi phạm nội quy cơ sở giam giữ hoặc cản trở việc giải quyết vụ án thì người có thẩm quyền giám sát phải dừng ngay cuộc gặp và lập biên bản, báo cáo với Thủ trưởng cơ sở giam giữ và thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết để xử lý”.
So với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có những thay đổi tiến bộ liên quan đến quy định về việc Luật sư gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam, cụ thể:
Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về việc người bào chữa gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam:
“1. Khi người bào chữa có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra cho gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thì Cơ quan điều tra làm các thủ tục theo quy định của pháp luật để người bào chữa gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam; nếu từ chối cho gặp thì phải thông báo cho người bào chữa biết bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối.
- Trước khi cho người bào chữa gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam, Điều tra viên giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của người bào chữa quy định tại Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự; phối hợp với Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam phổ biến cho người bào chữa nội quy, quy chế của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh. Trong quá trình người bào chữa gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam, Điều tra viên phối hợp với cán bộ, chiến sĩ Nhà tạm giữ, bị can theo nội quy và quy chế của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam nhằm bảo đảm việc tuân thủ quyền và nghĩa vụ của người bào chữa. Trường hợp phát hiện người bào chữa vi phạm các quy định của pháp luật thì phải dừng ngay việc gặp người bị tạm giữ, bị can của người bào chữa và lập biên bản, báo cáo Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý”.
Như vậy, hiện nay, pháp luật quy định về thủ tục Luật sư gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam như sau:
Luật sư có quyền gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;
Để gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam, Luật sư cần xuất trình các giấy tờ: Văn bản thông báo người bào chữa; Thẻ luật sư, Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân;
Nếu xét thấy cần thiết, Cơ quan đang quản lý bị can đang bị tạm giam có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan đang thụ lý vụ án biết việc gặp của người bào chữa để cử người phối hợp với cơ sở giam giữ giám sát cuộc gặp. Luật sư có thể thông báo trước việc gặp bị can đang bị tạm giam cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra đang thụ lý vụ án. Do vậy có thể hiểu, việc giám sát cuộc gặp giữa bị can, bị cáo và Luật sư của Cơ quan đang thụ lý vụ án là không cần bắt buộc, chỉ khi cần thiết, Cơ quan đang thụ lý vụ án mới tham gia.
3. Công việc của luật sư khi bào chữa cho bị can, bị cáo đang bị tạm giam

Luật sư tham gia tố tụng hình sự để bảo vệ cho bị can, bị cáo đang bị tạm giam với tư cách người bào chữa. Khi tham gia tố tụng, người bào chữa thực hiện các công việc thuộc các quyền tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 để phục vụ việc bào chữa như:
- Gặp, hỏi người bị buộc tội;
- Tham gia các phiên lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can và có thể được hỏi người bị bắt, bị tạm giữ, bị can khi được người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đồng ý;
- Tham gia hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác;
- Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, định giá tài sản, người phiên dịch, dịch thuật;
- Đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
- Đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;
- Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.
4. Câu hỏi thường gặp
Ai được phép vào thăm người bị tạm giam tạm giữ
Căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 9 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, người bị tạm giam, tạm giữ được phép gặp các đối tượng sau: thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự.
Trong đó, thân nhân của người bị tạm giam, tạm giữ theo khoản 8 Điều 3 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 bao gồm:
- Người có quan hệ ông bà nội, ông bà ngoại; bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, bố mẹ vợ, bố mẹ chồng;
- Vợ, chồng; anh chị em ruột hoặc con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể với người bị tạm giữ, người bị tạm giam;
- Cháu ruột với người bị tạm giữ, người bị tạm giam mà người bị tạm giữ, người bị tạm giam là ông bà nội, ông bà ngoại.
Người đang bị tạm giam có được gặp luật sư không?
Trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành thì bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam có quyền được mời luật sư bào chữa cho mình hoặc không mời. Chính vì thế mà đối với bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam, nếu có đơn yêu cầu người bào chữa thì Cơ quan điều tra, cơ sở giam giữ thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết.
Cũng theo như định của pháp luật hiện hành, thì khi người bào chữa đề nghị gặp thân chủ, đã xuất trình văn bản thông báo người bào chữa và thẻ luật sư, chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân thì cơ quan đang thụ lý vụ án phải bố trí để người bào chữa gặp mặt những bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam. Không những thế mà cơ quan điều tra cần đồng thời thực hiện việc phổ biến cho người bào chữa biết quy định của trụ sở cơ quan điều tra và yêu cầu chấp hành nghiêm chỉnh.
Trường hợp nào người bị tạm giam tạm giữ không được gặp mặt người khác?
Đối với các trường hợp sau, người bị tạm giam tạm giữ không được phép gặp mặt người khác:
- Thân nhân/người bào chữa không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa, giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, tạm giam hoặc cơ quan đang thụ lý vụ án có văn bản đề nghị không cho người bị tạm giữ, tạm giam gặp thân nhân do có ảnh hưởng nghiêm trọng đến giải quyết vụ án.
- Trường hợp khẩn cấp để bảo vệ an toàn nơi giam giữ hoặc để truy bắt người bị tạm giữ, tạm giam bỏ trốn;
- Khi có dịch bệnh xảy ra tại khu vực có cơ sở giam giữ;
- Khi cấp cứu người bị tạm giữ, tạm giam hoặc người bị tạm giữ, tạm giam đang mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;
- Lúc lấy lời khai, hỏi cung hoặc đang tham gia các hoạt động tố tụng khác;
- Người bị tạm giữ, tạm giam không đồng ý gặp; trường hợp này, người thăm gặp được trực tiếp gặp người bị tạm giữ, tạm giam để xác nhận không đồng ý thăm gặp;
- Người đến thăm cố ý vi phạm nội quy của nơi giam giữ, chế độ quản lý từ hai lần trở lên;
- Người bị tạm giữ, tạm giam đang bị kỷ luật theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này.
CSPL: khoản 4 Điều 22 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015.
Tóm lại, Luật sư ACC vừa cung cấp đến quý bạn đọc bài viết liên quan đến vấn đề “Thủ tục luật sư vào gặp người bị tạm giam ”. Nếu bạn cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác, Luật sư ACC luôn sẵn sàng hỗ trợ. Với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm, chúng tôi cam kết cung cấp giải pháp pháp lý hiệu quả và phù hợp nhất cho khách hàng.
