Bên nhận bảo đảm là gì?

Bạn đã bao giờ nghe đến khái niệm “bên nhận bảo đảm” chưa? Trong các giao dịch vay mượn, đặc biệt là các giao dịch có giá trị lớn, bên nhận bảo đảm đóng vai trò vô cùng quan trọng. Vậy, bên nhận bảo đảm là gì và họ có những quyền lợi, nghĩa vụ gì? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây của Luật sư ACC nhé!

1. Bên nhận bảo đảm là gì?

Bên nhận bảo đảm là Bên có quyền trong quan hệ dân sự mà việc thực hiện quyền đó được bảo đảm bằng một hoặc nhiều giao dịch bảo đảm, bao gồm bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên nhận bảo lãnh, tổ chức tín dụng trong trường hợp tín chấp và bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại trong trường hợp ký quỹ.

2. Quyền và nghĩa vụ bên nhận bảo đảm

Quyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm trong thời gian chờ xử lý tài sản bảo đảm được quy định tại Điều 64 Nghị định 163/2006/NĐ-CP giao dịch bảo đảm, cụ thể như sau:

– Trong thời gian chờ xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm được khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc uỷ quyền cho người thứ ba khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm theo đúng tính năng và công dụng của tài sản. Việc cho phép hoặc uỷ quyền khai thác, phương thức khai thác và việc xử lý hoa lợi, lợi tức thu được phải được lập thành văn bản.

– Hoa lợi, lợi tức thu được phải được hạch toán riêng, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Sau khi trừ các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản, số tiền còn lại được dùng để thanh toán cho bên nhận bảo đảm.

3. Hệ quả của đăng ký biện pháp bảo đảm?

– Thứ nhất, đăng ký giao dịch là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của giao dịch bảo đảm trong trường hợp pháp luật quy định.
– Thứ hai, đăng ký giao dịch bảo đảm có giá trị pháp lý đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
– Thứ ba, đăng ký giao dịch bảo đảm là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp dùng một tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ.

4. Hiệu lực của hợp đồng bảo đảm

Theo quy định tại Điều 405 BLDS năm 2005 thì hợp đồng dân sự được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Như vậy, nếu pháp luật không có quy định khác hoặc các bên trong hợp đồng không có thỏa thuận khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự thì hợp đồng đó sẽ có hiệu lực từ thời điểm được giao kết hợp pháp. Tức là tại thời điểm giao kết, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được phát sinh và các bên có trách nhiệm thực hiện.

Về quy định khác của pháp luật liên quan đến hiệu lực của hợp đồng bảo đảm hiện có các quy định như sau: theo Điều 12 Nghị định số 163; Điều 323 BLDS năm 2005, điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định số 163 các trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, tàu bay, tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp. Theo điểm a, b, d khoản 1 Điều 10 Nghị định số 163 thì giao dịch bảo đảm được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết.

Qua các quy định trên đây cho thấy, đối với thế chấp tài sản thì chỉ thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, tàu bay, tàu biển là có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp, các trường hợp khác có hiệu lực từ thời điểm công chứng hoặc chứng thực nếu các bên có thỏa thuận; còn các trường hợp thế chấp khác sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm hợp đồng thế chấp được giao kết. Và thế chấp quyền đòi nợ cũng không thuộc trường hợp bắt buộc phải công chứng để hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ có hiệu lực.

Tính đối kháng với bên có nghĩa vụ trả nợ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định số 163, giao dịch thế chấp quyền đòi nợ có hiệu lực pháp luật ngay cả khi không có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, điểm b khoản 2 Điều 22 và điểm b khoản 3 Điều 22 của Nghị định này quy định, Bên nhận thế chấp phải cung cấp thông tin về việc thế chấp quyền đòi nợ, nếu bên có nghĩa vụ trả nợ yêu cầu và bên có nghĩa vụ trả nợ có quyền yêu cầu Bên nhận thế chấp cung cấp thông tin về việc thế chấp quyền đòi nợ, nếu Bên nhận thế chấp quyền đòi nợ không cung cấp thông tin thì có quyền từ chối thanh toán cho Bên nhận thế chấp.

Nhưng quy định tại Điều 22 về nghĩa vụ cung cấp thông tin hay quyền được cung cấp thông tin chưa cụ thể vì chưa nêu rõ những thông tin mà Bên nhận thế chấp (TCTD) phải cung cấp cho bên có nghĩa vụ trả nợ là gì (thông tin về việc xác lập giao dịch thế chấp quyền đòi nợ hay thông tin về diễn biến của giao dịch thế chấp quyền đòi nợ …), liệu TCTD có phải cung cấp bất kỳ yêu cầu nào của bên có nghĩa vụ hay không trong khi TCTD có nghĩa vụ phải bảo mật thông tin khách hàng. Và như vậy, nếu khi bên có nghĩa vụ đưa ra yêu cầu không hợp lý nên TCTD không cung cấp, thì đó có là căn cứ để bên có nghĩa vụ từ chối thanh toán cho TCTD? Khi thiếu quy định rõ ràng về vấn đề này, rất khó có thể truy cứu trách nhiệm khi việc thông báo, hoặc cung cấp thông tin không được thực hiện. Và khi quy định pháp luật chưa thực sự rõ ràng, để tránh rủi ro, các bên trong hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ có thể thỏa thuận cụ thể về việc cung cấp thông tin, các thông tin phải cung cấp. Chẳng hạn có thể quy định việc Bên nhận thế chấp thông báo cho bên có nghĩa vụ trả nợ về việc xác lập giao dịch thế chấp quyền đòi nợ. Một giải pháp khác là hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ có thể trở thành một hợp đồng ba bên tức là có sự tham gia của cả bên có nghĩa vụ trả nợ và trong trường hợp này thì không cần phải thông báo cho bên có nghĩa vụ trả nợ về việc ký kết hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ.

Theo quy định của pháp luật hiện hành (Điều 339) và trên thực tế áp dụng tại các TCTD, việc thế chấp quyền đòi nợ sẽ chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp: nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt, việc thế chấp được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác, quyền đòi nợ thế chấp đã được xử lý và chấm dứt theo thỏa thuận của các bên.

5. Câu hỏi thường gặp

Vai trò của bên nhận bảo đảm trong một giao dịch bảo đảm là gì?

  • Đảm bảo quyền lợi: Bên nhận bảo đảm được pháp luật bảo vệ quyền lợi khi cho vay hoặc đầu tư. Họ có quyền được ưu tiên thanh toán trước so với các chủ nợ khác trong trường hợp bên đi vay không có khả năng thanh toán đầy đủ.
  • Kiểm soát tài sản bảo đảm: Bên nhận bảo đảm có quyền kiểm soát tài sản bảo đảm để đảm bảo giá trị của nó không bị suy giảm. Họ có thể yêu cầu bên đi vay bảo quản tài sản bảo đảm cẩn thận và không được chuyển nhượng tài sản này cho người khác.
  • Thực hiện quyền: Khi bên đi vay vi phạm nghĩa vụ, bên nhận bảo đảm có quyền thực hiện các biện pháp bảo đảm như bán đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
  • Giảm thiểu rủi ro: Việc có tài sản bảo đảm giúp bên nhận bảo đảm giảm thiểu rủi ro khi cho vay. Nếu bên đi vay không trả nợ, bên nhận bảo đảm có thể thu hồi nợ bằng cách bán tài sản bảo đảm.

Những rủi ro mà bên nhận bảo đảm có thể gặp phải là gì?

Rủi ro về giá trị tài sản bảo đảm:

  • Giảm giá trị: Giá trị của tài sản bảo đảm có thể giảm do nhiều yếu tố như:
    • Sự biến động của thị trường: Giá bất động sản, chứng khoán, vàng… có thể giảm mạnh.
    • Sự hao mòn tự nhiên: Tài sản vật chất sẽ bị hao mòn theo thời gian.
    • Sự cố hư hỏng: Tài sản có thể bị hỏng hóc, mất mát do thiên tai, hỏa hoạn, trộm cắp…
  • Khó định giá: Việc định giá chính xác tài sản bảo đảm đôi khi rất khó, đặc biệt là đối với các loại tài sản phức tạp.

Rủi ro pháp lý:

  • Tài sản bảo đảm bị tranh chấp: Tài sản bảo đảm có thể bị nhiều người cùng yêu cầu quyền sở hữu.
  • Hợp đồng bảo đảm bị vô hiệu: Hợp đồng bảo đảm có thể bị tòa án tuyên bố vô hiệu nếu vi phạm pháp luật hoặc không đảm bảo các yếu tố hợp pháp của một hợp đồng.
  • Thủ tục thực hiện quyền bảo đảm phức tạp: Việc thực hiện quyền bảo đảm, đặc biệt là việc bán đấu giá tài sản bảo đảm, có thể gặp nhiều khó khăn về mặt thủ tục.

Rủi ro từ bên đi vay:

  • Bên đi vay gian lận: Bên đi vay có thể cung cấp thông tin sai lệch về tài sản bảo đảm hoặc tình hình tài chính của mình.
  • Bên đi vay cố tình làm giảm giá trị tài sản bảo đảm: Bên đi vay có thể làm hư hỏng tài sản bảo đảm để giảm thiểu giá trị của nó.

Sự khác biệt giữa bên nhận bảo đảm và bên thứ ba trong một giao dịch bảo đảm là gì?

Đặc điểm Bên nhận bảo đảm Bên thứ ba
Quan hệ với bên đi vay Là chủ nợ
Không phải chủ nợ
Mục đích tham gia Nhận bảo đảm để đảm bảo khoản nợ được trả
Hỗ trợ bên đi vay bằng cách cung cấp tài sản bảo đảm
Quyền lợi Có quyền ưu tiên được thanh toán trước các chủ nợ khác
Không có quyền ưu tiên thanh toán nhưng có thể được bồi hoàn nếu đã thực hiện nghĩa vụ bảo đảm
Nghĩa vụ Kiểm soát tài sản bảo đảm, thực hiện biện pháp bảo đảm
Cung cấp tài sản bảo đảm theo thỏa thuận

Hy vọng qua bài viết, Luật sư ACC đã giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về Bên nhận bảo đảm là gì? Đừng ngần ngại hãy liên hệ với Luật sư ACC nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc gì cần tư vấn giải quyết.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *