Trong cuộc sống xã hội, không thể tránh khỏi những hành vi vi phạm pháp luật. Để đảm bảo trật tự, kỷ cương và xử lý kịp thời các hành vi sai trái, Nhà nước ta đã ban hành nhiều quy định về xử lý vi phạm hành chính. Vậy, biện pháp xử lý hành chính là gì? Nó có vai trò như thế nào trong việc duy trì trật tự xã hội? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Nội dung bài viết
1. Biện pháp xử lý hành chính là gì?
Theo khoản 3 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2. Các biện pháp xử lý hành chính và đối tượng áp dụng
Điểm a khoản 2 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng quy định tại các điều 90, 92, 94 và 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
Có 04 biện pháp xử lý hành chính được áp dụng hiện nay quy định từ Điều 89 đến Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi bởi Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020), cụ thể:
2.1. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
– Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với các đối tượng quy định tại Điều 90 của Luật này để giáo dục, quản lý họ tại nơi cư trú trong trường hợp nhận thấy không cần thiết phải cách ly họ khỏi cộng đồng.
– Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 03 tháng đến 06 tháng.
* Đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn:
1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép.
4. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chiếm giữ trái phép tải sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép nhưng không phải là tội phạm.
5. Người từ đủ 14 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
6. Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chiếm giữ trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép, ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình nhưng không phải là tội phạm.
7. Người quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi quy định tại khoản 1 mà không có nơi cư trú ổn định thì được giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em để quản lý, giáo dục trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Người từ đủ 18 tuổi trở lên quy định tại khoản 5 mà không có nơi cư trú ổn định thì giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần thứ ba tổ chức quản lý.
2.2. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
– Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường.
– Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 06 tháng đến 24 tháng.
* Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng:
1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự, trừ những tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
4. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 4 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
2.3. Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
– Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 để lao động, học văn hoá, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc.
– Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ 06 tháng đến 24 tháng.
* Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc:
– Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 nhưng không phải là tội phạm và không có nơi cư trú ổn định;
– Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
2.4. Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
– Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
– Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng.
* Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.
3. Nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính

– Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng quy định tại các điều 90, 92, 94 và 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
Các biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài.
– Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;
– Việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
– Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính.
(Khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012)
3. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính
– Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn:
+ 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
+ 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
+ 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy định tại các khoản 3, 4 và 6 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
+ 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
– Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng:
+ 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 92 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
+ 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 92 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
– Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 94 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
Lưu ý: Trong các thời hạn trên mà cá nhân cố tình trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì thời hiệu được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
(Khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, điểm b, c khoản 4 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020)
4. Thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính

– Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, cụ thể:
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi người vi phạm cư trú;
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận người chưa thành niên không có nơi cư trú ổn định đặt trụ sở;
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện người từ đủ 18 tuổi trở lên có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối, không có nơi cư trú ổn định.
– Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
(Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, khoản 1 Điều 7 Nghị định 120/2021/NĐ-CP)
5. Cấp giấy chứng nhận cho người đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính
– Khi người vi phạm đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp giấy chứng nhận cho người đã chấp hành xong và gửi bản sao cho gia đình người đó.
– Khi người vi phạm đã chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc cấp giấy chứng nhận cho người đã chấp hành xong và gửi bản sao cho gia đình người đó, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định, cơ quan quản lý trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
– Đối tượng không xác định được nơi cư trú là người chưa thành niên hoặc người ốm yếu không còn khả năng lao động thì sau khi hết hạn chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được đưa về cơ sở bảo trợ xã hội tại địa phương nơi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc đóng trụ sở (theo Điều 114 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012).
6. Câu hỏi thường gặp
Người bị xử phạt hành chính có quyền gì?
Người bị xử phạt hành chính có quyền:
- Biết rõ hành vi vi phạm của mình.
- Được giải thích về quyết định xử phạt.
- Được bào chữa.
- Được kháng cáo.
Khi nào một hành vi được coi là vi phạm hành chính?
Để một hành vi được coi là vi phạm hành chính, hành vi đó phải hội tụ đầy đủ các yếu tố sau:
Hành vi có lỗi
- Lỗi cố ý: Người thực hiện hành vi biết rõ hành vi đó trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.
- Lỗi vô ý: Người thực hiện hành vi không biết hành vi đó trái pháp luật nhưng đã có điều kiện để biết.
Vi phạm quy định của pháp luật
- Hành vi đó phải trái với quy định của pháp luật về quản lý nhà nước, cụ thể là các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định… có liên quan.
Không phải là tội phạm
- Hành vi đó không đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Bị pháp luật quy định phải xử phạt hành chính
- Có quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về việc xử phạt hành vi đó.
Ví dụ: Vi phạm giao thông: Chạy quá tốc độ, vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm… là những hành vi vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ và sẽ bị xử phạt hành chính.
Sự khác biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm là gì?
| Đặc điểm | Vi phạm hành chính | Tội phạm |
| Mức độ nguy hiểm | Thấp | Cao |
| Khung pháp lý | Bộ luật Vi phạm hành chính và các luật chuyên ngành | Bộ luật Hình sự |
| Hình thức xử lý | Phạt tiền, tước quyền… |
Phạt tù, cải tạo…
|
| Cơ quan xử lý | Cơ quan hành chính nhà nước | Cơ quan tố tụng |
| Hậu quả pháp lý | Nhẹ | Nghiêm trọng |
Hy vọng qua bài viết, Luật sư ACC đã giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về Biện pháp xử lý hành chính là gì? Đừng ngần ngại hãy liên hệ với Luật sư ACC nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc gì cần tư vấn giải quyết.
