Tổng hợp đề thi luật sư, đáp án đề thi hết tập sư luật sư

Tổng hợp đề thi và đáp án cho kỳ thi luật sư là một tài liệu quan trọng cho các thí sinh chuẩn bị cho kỳ thi tuyển chọn luật sư. Đề thi luật sư thường bao gồm các phần liên quan đến kiến thức pháp luật cơ bản và chuyên sâu, kỹ năng thực hành và phân tích tình huống pháp lý. Trong bài viết sau hãy cùng ACC tìm hiểu về Tổng hợp đề thi luật sư, đáp án đề thi hết tập sư luật sư để bạn có nhiều thêm một sự lựa chọn khi cần đến.

Tổng hợp đề thi luật sư, đáp án đề thi hết tập sư luật sư

Câu 1. Ngày 15/8/2007, ông S cư trú tại tổ dân phố số 2, phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội có đơn gửi Văn phòng luật sư đề nghị Văn phòng cử luật sư giúp soạn thảo Di chúc cho ông. Trong đơn, ông trình bảy như sau:

“Tôi năm nay 62 tuổi, do bệnh nặng, sức khoẻ yếu không biết chết lúc nào, nay tôi còn minh mẫn nên nhờ Văn phòng luật sư soạn thảo Di chúc giúp tôi định đoạt tài sản trước khi tôi chết nhằm tránh xảy ra tranh chấp sau này.

Tôi lấy bà Q sinh được 3 người con và có nhận một người con nuôi. Các con tội nay đã trưởng thành, có gia đình và công ăn việc làm. Vợ tôi đã mất năm 2002. Hiện nay, bó mẹ vợ và bố đẻ của tôi vẫn mạnh khoẻ. Vợ chồng tôi có tài sản bao gồm: quyền sử dụng 700m2 đất (có giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên tôi và vợ tôi), 01 ngôi nhà 5 tầng diện tích sử dụng là 250m2, tổng trị giá tài sản là 12 tỷ VNĐ. Ý định của tôi sẽ để lại Di chúc phân chia tài sản như sau: con trai trưởng hưởng 1/3 tổng giá trị tài sản, 2/3 tổng giá trị tài sản còn lại chia làm 5 phần, con thứ hai và thứ ba mỗi đứa hưởng hai phần, đứa con nuôi hưởng một phần.

  1. Là người tập sự hành nghề luật sư được phân công vụ việc này, anh/chị sẽ tư vấn cho ông S như thế nào trước khi làm Di chúc?
  2. Anh/chị hãy giúp ông S soạn thảo bản Di chúc của ông?

Câu 2. Ngày 19/7/2006, bà V cư trú tại thôn Quỳnh Đô, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội có đơn gửi Văn phòng luật sư đề nghị Văn phòng cử luật sư giúp tư vấn và tham gia giải quyết tranh chấp quyền thừa kế. Trong đơn, bà trình bày như sau:

“Ông Nguyễn Đăng Việt là bố chồng tôi sinh năm 1937, mất năm 1995 được ông bà để lại cho một thửa đất thổ cư với diện tích là 294m2. Năm 1994, UBND huyện Thanh Trì đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Việt cho thửa đất thổ cư nói trên. Năm 1995, ông Việt mất không để lại di chúc.

Năm 1960, ông Việt và bà D được hai bên gia đình cưới hỏi nhưng không đăng ký kết hôn. Hai người sống chung nhưng không sinh được con. Ông Việt và bà D có làm thủ tục pháp lý nhận nuôi hai người con nuôi là anh Nguyễn Đăng Q và chị Nguyễn Thị N.

Năm 1976, ông Việt lấy bà T nhưng cũng không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Ông Việt và bà T có hai người con chung là chồng tôi (anh Nguyễn Đăng S) và cô Nguyễn Thị X.

Sau khi ông Việt lấy bà T sinh con thì cả ông Việt, bà D, bà T và các con đều sống hoà thuận. Khi ông Việt ốm đau và mất, bà T và các con đều chăm sóc và lo tang ma chu đáo cho ông Việt.

Ngày 20/6/1998, bà D lập di chúc phân chia di sản của ông Việt để lại là quyền sử dụng 294m2 đất cho các con. Theo đó, anh Q được sử dụng 110m2 đất, chị N được sử dụng 74m2 đất và chồng tôi được sử dụng 110m2. Riêng cô X hiện nay đang sống ở Cộng hoà Liên bang Nga, kinh tế đầy đủ nên không được chia tài sản của ông Việt.

Ngày 06/10/2001, trong biên bản họp dòng họ Nguyễn Đăng, bà D phân chia lại di sản của ông Việt, giao quyền sử dụng 294m2 đất cho các con là anh Q, chị N, chồng tôi và anh H (là cháu gọi ông Việt bằng chú ruột). Quyền sử dụng đất của anh Q, chị N giữ nguyên như lần phân chia trước. Bà D lấy 35m2 đất trong phần đất 110m2 của chồng tôi làm nhà thờ họ và giao cho anh H quản lý. Cả gia đình gồm bà T, anh Q, chị N và chồng tôi không đồng ý với cách làm này của bà D.

Tháng 4/2002, chồng tôi bị tai nạn mất đột ngột không để lại di chúc. Chúng tôi có một con chung là cháu Nguyễn Đăng C 5tuổi.

Sau khi chồng tôi mất, anh H đã tự ý dựng nhà trên diện tích 35m2 được bà D chia cho trên phần đất của chồng tôi. Sau rất nhiều lần hoà giải nhưng không thành, tôi đã làm đơn khởi kiện ra Toà án nhân dân huyện Thanh Trì yêu cầu chia thừa kế. Toà án nhân dân huyện Thanh Trì đã thụ lý đơn kiện của tôi”.

1) Anh/chị tư vấn cho bà V những vấn đề gì? trong lần gặp gỡ đầu tiên với

bà V, anh/chị sẽ xác minh những vấn đề gì?

2) Nếu anh /chị được phân công bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cháu Nguyễn Đăng C (con của bà V và anh S) tại toà án thì anh /chị sẽ lập luận như thể nào để bảo vệ quyền lợi cho C?

3) Trước khi mở phiên toà xét xử vụ kiện này, bà D, anh Q, chị N và anh H xin gặp anh/chị để bàn cùng nhau đàn xếp vụ việc, anh/chị có nhận lời hay không? anh/chị xử sự như thế nào?

Câu 3. Khoảng 18 giờ ngày 22/6/2007, Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 29/12/1991, Trịnh Đăng K, sinh ngày 02/11/1989 và Hoàng Thọ S, sinh ngày 11/9/1988 (cả ba đều cư trú tại phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội) rủ nhau ra chợ Long Biên với mục đích trộm cắp tài sản. Cả bọn ngồi ở quán nước gần bến xe buýt để xem có ai sơ hở thì hành động. Ngồi một lúc, Đ phát hiện chị Lan cùng bạn là anh Thắng đang đứng chờ xe buýt ở bến, chị Lan có chiếc điện thoại di động NOKIA (trị giá 5.000.000đ) để trong túi quần sau. Đ phân công K và S đợi chị Lan lên xe thì có trách nhiệm chen lấn, che mặt và làm chị Lan mất tập trung, tạo điều kiện cho Đ móc điện thoại của chị Lan. Khoảng 5 phút sau khi xe buýt đến, chị Lan, anh Thắng cùng lên xe thì K, S đi ra nhảy lên xe buýt chen lấn chị Lan, Đ đi phía sau đã móc túi chị Lan lấy được chiếc điện thoại di động. Đ giấu điện thoại ở cạp quần và nhảy khỏi xe buýt. Anh Thắng và chị Lan phát hiện mất điện thoại cùng nhảy xuống xe đuổi Đ. Anh Thắng đuổi kịp và đạp vào lưng Đ làm điện thoại vừa trộm cắp được rơi xuống đất. Anh Thắng nhặt điện thoại đưa chị Lan và cả hai tiếp tục đứng chờ xe buýt.

Đ, K và S bỏ chạy về chợ Long Biên và bàn nhau quay lại tìm anh Thắng, chị Lan. Cả ba người quay lại thì gặp anh Thắng đang đứng đợi xe buýt. K, S nhảy vào túm tóc, vít cổ anh Thắng xuống, đấm đá anh Thắng. Đ nhật chai sữa đậu nành ở quán nước xông vào đập hai cái vào đầu anh Thắng, làm anh Thắng ngã bất tỉnh. Chị Lan sợ quá vội ôm lấy anh Thắng, xin bọn Đ, K và S tha cho anh Thắng. K và S tiếp tục xông vào túm cổ áo, tát chị Lan, Đ tiện tay lấy chiếc điện thoại di động NOKIA (trị giá 5.000.000₫), 01 sợi dây chuyển vàng ở cổ chị Lan. Thấy mọi người hô cướp và công an đến nên Đ, K và S bỏ chạy. Đ cầm điện thoại và dây chuyển vừa lấy được của chị Lan cùng K và S đi xe ôm đến cửa hàng cầm đồ bán được 4.700.000 ₫ và cùng ăn tiêu hết.

Chị Lan nhờ mọi người đưa anh Thắng vào bệnh viện Việt Đức cấp cứu và vào đồn công an chợ Long Biên trình báo sự việc.

Ngày 23/6/2007, Bố mẹ Nguyễn Đức Đ đã đưa Đ ra đầu thú tại đồn công an chợ Long Biên. Thấy đây là vụ việc nghiêm trọng, ngay trong ngày đồn công an chợ Long Biên đã bàn giao vụ việc và Đ cho cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàn Kiếm để xử lý theo quy định của pháp luật. Tại cơ quan điều tra, Đ đã thành khẩn khai báo về những hành vi phạm tội của mình và của K, S. Ngày 24/6/2007 Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàn Kiếm ra Quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Nguyễn Đức Đ, Trịnh Đăng K và Hoàng Thọ S về các tội: “cướp giật tài sản” và “gây rối trật tự công cộng”. Ngày 25/6/2007, cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàn Kiếm đã bắt được Trịnh Đăng K và Hoàng Thọ S khi đang tìm cách chạy chốn khỏi Hà Nội. Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàn Kiếm đã quyết định trưng cầu giám định mức độ thương tích và tổn hại sức khỏe đối với anh Thắng. Kết luận giám định cho rằng anh Thắng bị tổn hại sức khỏe, tỷ lệ thương tật tạm thời là 13%.

Ngày 30/6/2007, sau khi có kết luận điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã ra cáo trạng truy tố Nguyễn Đức Đ, Trịnh Đăng K và Hoàng Thọ S về tội: “gây rối trật tự công cộng” theo điểm a, b khoản 2 Điều 245 và tội “cướp giật tài sản” theo điểm a, b, đ và e khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999.

Ngày 10/7/2007, Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đức Đ 10 năm tù giam (trong đó 04 năm tù về tội “gây rối trật tự công cộng”, 06 năm tù về tội “cướp giật tài sản”); bị cáo Trịnh Đăng K 11 năm tù giam (trong đó 04 năm tù về tội “gây rối trật tự công cộng”, 07 năm tù về tội “cướp giật tài sản”.

1) Anh/ chị có nhận xét gì về bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm tuyên phạt đối với bị cáo Đ và K?

2) Giả sử anh/chị được phân công bào chữa cho bị cáo Đ và K tại phiên toà sơ thẩm, anh/chị phải tiến hành những việc gì trước khi tham gia phiên toà sơ thẩm xét xử các bị cáo trong vụ án này? Hãy trình bày quan điểm và lập luận bào chữa của anh/ chị tại phiên toà sơ thẩm để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo Đ và K?

Câu 4. Công ty TNHH Tân Phú có đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp. Công ty cổ phần xây dựng An Bình có đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Đà Nẵng cấp. Công ty co phần xây dựng An Bình có nhận thầu xây dựng trụ sở Chi nhánh của Công ty TNHH Tân Phú tại đường Thái Hà, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Sau khi bàn giao và đưa vào sử dụng, công trình trụ sở Chi nhánh của Công ty TNHH Tân Phú đã bị hư hỏng, lún nứt nhiều chỗ. Công ty TNHH Tân Phú yêu cầu Công ty cổ phần xây dựng An Bình sửa chữa và bồi thường thiệt hại. Quá trình hai bên tự giải quyết nhưng không có kết quả. Công ty TNHH Tân Phú đã đến Văn phòng luật sư nhờ tư vấn và bảo vệ quyền lợi cho mình.

  1. Là người được cử, anh/ chị sẽ tư vấn cho Công ty TNHH Tân Phú những vấn đề gì?
  2. Anh/chị sẽ giúp Công ty TNHH Tân Phú chuẩn bị hồ sơ, làm thủ tục khởi kiện vụ án như thế nào? Anh/chị hãy giúp Công ty TNHH Tân Phú soạn thảo đơn khởi kiện?

Hy vọng qua bài viết, Luật sư ACC đã giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về Tổng hợp đề thi luật sư, đáp án đề thi hết tập sư luật sư. Đừng ngần ngại hãy liên hệ với Luật sư ACC nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc gì cần tư vấn giải quyết.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *