Công tố viên và cảnh sát khác nhau như thế nào?

Công tố viên và cảnh sát đóng vai trò then chốt trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự tại Việt Nam. Hiểu rõ sự khác biệt giữa hai vị trí này giúp công dân nắm bắt đúng thẩm quyền và quy trình tố tụng. Bài viết sau đây sẽ làm rõ vấn đề này cùng Luật sư ACC.

Công tố viên và cảnh sát khác nhau như thế nào?
Công tố viên và cảnh sát khác nhau như thế nào?

1. Công tố viên và cảnh sát khác nhau như thế nào?

Công tố viên và cảnh sát khác nhau trước hết về chức năng và cơ quan thực hiện nhiệm vụ. “Công tố viên” là cách gọi thông dụng đối với người thực hành quyền công tố, còn Kiểm sát viên mới là chức danh pháp lý trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân hiện được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-VPQH năm 2026.

Trong khi đó, “cảnh sát” không phải là chức danh tố tụng cụ thể. Trong hoạt động điều tra hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công an nhân dân thực hiện điều tra theo thẩm quyền; Điều tra viên là người được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Vì vậy, không nên đồng nhất mọi cán bộ, chiến sĩ cảnh sát với Điều tra viên hoặc Cơ quan Cảnh sát điều tra.

2. Chức năng của công tố viên theo quy định pháp luật

Công tố viên, theo cách gọi thông dụng, thực hiện các nhiệm vụ thuộc hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Đối với Kiểm sát viên, Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn như kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra; đề ra yêu cầu điều tra; triệu tập, hỏi cung trong phạm vi thẩm quyền; tiến hành một số hoạt động điều tra; thực hành quyền công tố tại phiên tòa và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử.

Việc khởi tố, truy tố hoặc quyết định các vấn đề tố tụng phải được phân biệt theo thẩm quyền của Viện kiểm sát, người đứng đầu Viện kiểm sát và Kiểm sát viên được phân công. Kiểm sát viên không đương nhiên có toàn bộ thẩm quyền của Viện kiểm sát. Theo Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự, Kiểm sát viên thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng.

3. Chức năng của cảnh sát trong tố tụng hình sự

Trong tố tụng hình sự, cảnh sát chủ yếu được đề cập thông qua Cơ quan Cảnh sát điều tra và người tiến hành hoạt động điều tra. Theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều tra viên được phân công tiến hành khởi tố, điều tra vụ án có các nhiệm vụ, quyền hạn như kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; triệu tập, hỏi cung; thực hiện lệnh, quyết định tố tụng theo thẩm quyền; tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng và thực nghiệm điều tra.

Cơ quan điều tra có trách nhiệm điều tra, thu thập và đánh giá chứng cứ, làm rõ tình tiết vụ án và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Khi kết thúc điều tra, hồ sơ vụ án được chuyển cho Viện kiểm sát để thực hiện chức năng công tố và quyết định việc truy tố theo thẩm quyền. Do đó, cảnh sát không có thẩm quyền truy tố bị can; việc truy tố thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo Bộ luật Tố tụng hình sự.

4. Những điểm khác biệt chính giữa công tố viên và cảnh sát

Công tố viên và cảnh sát khác nhau về chủ thể, chức năng và nhiệm vụ trong tố tụng hình sự. Theo cách gọi chính xác về chức danh, Kiểm sát viên thuộc hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật; trong khi Điều tra viên thuộc Cơ quan điều tra và được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, hai bên có sự phân công và phối hợp theo quy định pháp luật. Kiểm sát viên kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, có thể đề ra yêu cầu điều tra và trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp pháp luật quy định. Vì vậy, không chính xác nếu hiểu rằng Kiểm sát viên hoàn toàn không được trực tiếp thực hiện bất kỳ hoạt động điều tra nào.

5. Câu hỏi thường gặp

Công tố viên có được trực tiếp điều tra vụ án không?

Có, trong phạm vi pháp luật cho phép. Theo Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra, đồng thời kiểm sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra. Vì vậy, không thể khẳng định Kiểm sát viên hoàn toàn không được trực tiếp thực hiện hoạt động điều tra.

Cảnh sát có quyền quyết định truy tố bị can không?

Không. Trong tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra và Điều tra viên thực hiện hoạt động điều tra theo thẩm quyền; việc truy tố thuộc chức năng, thẩm quyền của Viện kiểm sát theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, không nên dùng cách gọi “công tố viên quyết định truy tố” để thay thế cho thẩm quyền của Viện kiểm sát trong mọi trường hợp.

Sự phối hợp giữa công tố viên và cảnh sát diễn ra như thế nào?

Hai bên phối hợp trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Kiểm sát viên kiểm sát việc khởi tố, điều tra, đề ra yêu cầu điều tra và thực hiện các nhiệm vụ công tố theo sự phân công; Cơ quan điều tra, Điều tra viên tiến hành các hoạt động điều tra theo thẩm quyền. Việc phối hợp này nhằm bảo đảm quá trình điều tra, truy tố được thực hiện đúng trình tự và pháp luật.

Công tố viên và cảnh sát là hai vị trí không thể tách rời nhưng có chức năng riêng biệt trong hệ thống tư pháp. Việc nắm rõ sự khác biệt giúp người dân hiểu đúng quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Nếu cần tư vấn chi tiết về các vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật sư ACC để được hỗ trợ kịp thời và chuyên nghiệp.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *