Lời khai theo bộ luật tố tụng hình sự đóng vai trò then chốt trong việc thu thập chứng cứ, làm rõ sự thật khách quan của vụ án hình sự. Thủ tục này được quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm tính hợp pháp, tôn trọng quyền con người và ngăn ngừa việc bức cung, nhục hình. Việc thực hiện đúng quy định không chỉ giúp cơ quan tố tụng thu thập được chứng cứ có giá trị mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tham gia tố tụng. Cùng Luật sư ACC tìm hiểu chi tiết các quy định liên quan.

Nội dung bài viết
1. Quy định lấy lời khai theo Bộ luật Tố tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định lời khai, lời trình bày là một trong các nguồn chứng cứ theo điểm b khoản 1 Điều 87. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ giải quyết vụ án theo khoản 2 Điều 87.
Tùy tư cách tố tụng, pháp luật quy định thủ tục lấy lời khai khác nhau. Đối với bị can, hoạt động này được thực hiện dưới hình thức hỏi cung bị can theo Điều 183; đối với người làm chứng, việc lấy lời khai được quy định tại Điều 186 và Điều 187; đối với bị hại, đương sự, việc lấy lời khai được thực hiện theo Điều 188 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản. Theo Điều 184, biên bản phải ghi đầy đủ lời trình bày, câu hỏi và câu trả lời; Điều tra viên, Cán bộ điều tra không được tự mình thêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can. Sau khi hỏi cung, biên bản phải được đọc cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc và thực hiện việc ký xác nhận theo quy định.
2. Các trường hợp được lấy lời khai
Việc lấy lời khai được thực hiện tùy theo tư cách của người tham gia tố tụng và giai đoạn giải quyết vụ án.
Đối với bị can, khoản 1 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Điều tra viên tiến hành hỏi cung ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can; có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa về thời gian, địa điểm hỏi cung; trước lần hỏi cung đầu tiên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo Điều 60 và ghi vào biên bản.
Đối với người làm chứng, khoản 1 Điều 186 quy định việc lấy lời khai được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra, nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của người đó. Nếu vụ án có nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai riêng từng người và không để họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời khai.
Đối với bị hại, đương sự, việc lấy lời khai được thực hiện theo Điều 188, trong đó dẫn chiếu các quy định về lấy lời khai người làm chứng. Việc lấy lời khai bị hại, đương sự có thể được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Riêng việc hỏi cung bị can vào ban đêm không được thực hiện, trừ trường hợp không thể trì hoãn; khi đó phải ghi rõ lý do vào biên bản theo khoản 3 Điều 183.
3. Quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng khi lấy lời khai
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được đặt câu hỏi, yêu cầu người tham gia tố tụng trình bày những tình tiết liên quan đến vụ án trong phạm vi và theo trình tự do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
Đối với bị can, trước lần hỏi cung đầu tiên, Điều tra viên phải giải thích quyền và nghĩa vụ theo Điều 60. Theo điểm d khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị can có quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.
Việc ghi âm, ghi hình được áp dụng theo từng trường hợp cụ thể. Theo khoản 6 Điều 183, hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; tại địa điểm khác, việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh được thực hiện theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đối với người làm chứng, bị hại, đương sự, Điều 187 và Điều 188 quy định việc lấy lời khai có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
4. Bảo đảm quyền lợi của người được lấy lời khai
Người được lấy lời khai được bảo đảm các quyền tương ứng với tư cách tố tụng của mình. Đối với bị can, ngoài quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội, bị can còn có các quyền về bào chữa, khiếu nại và các quyền khác theo khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong quá trình hỏi cung, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được bức cung, dùng nhục hình. Khoản 5 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Việc lập biên bản cũng phải bảo đảm tính chính xác. Theo Điều 184, bị can được đọc hoặc nghe đọc biên bản hỏi cung; trường hợp có bổ sung, sửa chữa thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận.
Đối với người làm chứng, trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích quyền và nghĩa vụ theo Điều 66 và ghi nội dung này vào biên bản. Người làm chứng có nghĩa vụ trình bày trung thực những gì mình biết về vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
5. Câu hỏi thường gặp
Lời khai thu thập không đúng quy định có bị loại trừ không?
Theo khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự, những gì có thật nhưng không được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ giải quyết vụ án. Việc đánh giá giá trị của lời khai còn phải căn cứ vào toàn bộ quy định về chứng cứ và các tài liệu, chứng cứ khác trong vụ án.
Người bị lấy lời khai có quyền yêu cầu ghi âm không?
Không phải mọi trường hợp lấy lời khai đều có quy định chung rằng người được lấy lời khai có quyền yêu cầu ghi âm, ghi hình. Đối với hỏi cung bị can tại địa điểm khác cơ sở giam giữ hoặc trụ sở cơ quan có thẩm quyền, khoản 6 Điều 183 cho phép ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Lời khai của người làm chứng có giá trị như lời khai của bị can?
Lời khai, lời trình bày đều thuộc nguồn chứng cứ theo điểm b khoản 1 Điều 87, nhưng phải được đánh giá trong tổng thể các chứng cứ của vụ án. Riêng lời nhận tội của bị can chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác và không được dùng làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội theo khoản 2 Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai theo bộ luật tố tụng hình sự là yếu tố then chốt quyết định tính hợp pháp của chứng cứ trong vụ án hình sự. Để được tư vấn chi tiết và hỗ trợ thực hiện đúng quy định, hãy liên hệ Luật sư ACC ngay hôm nay để được đội ngũ chuyên gia pháp lý hỗ trợ kịp thời.
