Án treo là một chế định thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta. Với phương châm “giáo dục – khoan hồng”, án treo không buộc người bị kết án cách ly khỏi xã hội. Họ vẫn được làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, theo dõi, giáo dục của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Vậy thời gian thử thách án treo được tính như thế nào? Hãy cùng Luật sư ACC tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Nội dung bài viết
1. Thời gian thử thách là gì?
Thời gian thử thách luôn đi cùng với chế định án treo. Đây có thể coi như là một chế định mang tính giáo dục cao cũng như thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước. Theo đó, những trường hợp người phạm tội sau khi được xem xét những yếu tố khách quan trong quá trình thực hiện tội phạm có thể được Tòa án áp dụng hình phạt án treo. Khi quyết định cho người bị kết án phạt tù hưởng án treo, Tòa án cũng sẽ đồng thời tuyên thời gian thử thách đối với người này.
Thời gian thử thách là khoảng thời gian đủ để người bị kết án tự khẳng định về sự tự giác cải tạo của mình. Mặt khác, thời gian thử thách của án treo cũng giúp Toà án có điều kiện kiểm tra tính đúng đắn của việc áp dụng án treo đối với người bị kết án trong thời gian chấp hành bản án.
2. Thời gian thử thách trong án treo tính như thế nào?
Về thời gian thử thách trong án treo được quy định tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
– Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
– Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
– Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
– Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
– Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Như vậy khi quyết định cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo, Toà án đồng thời buộc phải tuyên thời gian thử thách đối với người phạm tội và chế định án treo chỉ có ý nghĩa khi tuyên thời gian thử thách đúng theo luật định.
Căn cứ theo Điều 4, Điều 5 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định cụ thể như sau:
3. Về ấn định thời gian thử thách
Theo Điều 4 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP thì khi cho người phạm tội hưởng án treo, Tòa án phải ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm.
Do đó, về việc ấn định thời gian thử thách do Tòa án thực hiện đối với người phạm tội án treo là bằng ai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm.
4. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách

Theo Điều 5 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách được xác định theo những trường hợp như sau:
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cũng cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, xét xử phúc thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần đầu.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án sơ thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Như vậy, trên đây là 08 thời điểm được xác định để bắt đầu tính thời gian thử thách.
5. Câu hỏi thường gặp
Người đang hưởng án treo nhưng phạm tội mới trong thời gian thử thách thì thời hạn chấp hành án treo còn lại sẽ được tính như thế nào?
Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định như sau: “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này”.
Đối với trường hợp đang được hưởng án treo mà lại phạm tội ở một vụ án khác, tức là thực hiện hành vi phạm tội mới thì lúc này, Tòa án buộc người nhà của bạn phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách đối với việc hưởng án treo được xác định như thế nào?
Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách đối với việc hưởng án treo được xác định được quy định tại Điều 5 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành (có hiệu lực từ 1/7/2018).
Mức rút ngắn thời gian thử thách án treo như thế nào?
Theo khoản 2 Điều 89 Luật Thi hành án Hình sự, người được hưởng án treo chỉ được xét rút ngắn thời gian thử thách mỗi năm 01 lần, mỗi lần từ 01 tháng đến 01 năm.
Trường hợp thời gian thử thách còn lại không quá 01 tháng thì có thể được rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.
Bên cạnh đó, người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế đã chấp hành 3/4 thời gian thử thách.
Nếu người được hưởng án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách nhưng sau đó vi phạm các nghĩa vụ trong thời gian thử thách và bị Tòa án quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì thời gian thử thách đã được rút ngắn không được tính để trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù.
Tóm lại, Luật sư ACC vừa cung cấp đến quý bạn đọc bài viết liên quan đến vấn đề “Thời gian thử thách án treo được tính như thế nào?”. Nếu bạn cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác, Luật sư ACC luôn sẵn sàng hỗ trợ. Với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm, chúng tôi cam kết cung cấp giải pháp pháp lý hiệu quả và phù hợp nhất cho khách hàng.
