Khi một người bị tạm giữ, tạm giam, điều mà gia đình và người thân mong muốn nhất là sớm được đoàn tụ. Vậy, trong trường hợp nào thì người bị tạm giữ, tạm giam có thể được trích xuất? Việc hiểu rõ quy định về trích xuất người bị tạm giữ tạm giam trong những trường hợp nào? sẽ giúp người thân có cơ sở để làm các thủ tục pháp lý cần thiết.

Nội dung bài viết
1. Thế nào là trích xuất?
Trích xuất được hiểu là việc đưa người bị tạm giữ, người bị tạm giam ra khỏi cơ sở giam giữ trong thời gian nhất định theo lệnh, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền để thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, khám bệnh, chữa bệnh, thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, thực hiện quyền, nghĩa vụ khác do luật định.
Trích xuất còn được hiểu là việc thực hiện quyết định của người có thẩm quyền theo quy định của Luật này đưa phạm nhân, người bị kết án tử hình hoặc người chấp hành biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng khỏi nơi quản lý và chuyển giao cho cơ quan, người có thẩm quyền để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, khám, chữa bệnh, quản lý giam giữ trong thời hạn nhất định.
Theo đó ta có thể hiểu, trích xuất được hiểu là việc đưa người bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án, người đang bị quản lý ra khỏi nơi quản lý trong một thời gian nhất định để chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền nhằm để phục vụ các hoạt động của các cơ quan thẩm quyền đó theo quy định của pháp luật liên quan.
Hiện nay, qua khảo sát ở một số các Tòa án cấp huyện, tỉnh ở địa phương khác nhau trên các tỉnh, thành phố khác nhau, việc Tòa án yêu cầu trích xuất đối với các chủ thể là người đang chấp hành án, người bị tạm giam, người bị tạm giữ, người đang chấp hành các biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng còn có sự không thống nhất về hình thức. Một số nơi sẽ dùng lệnh trích xuất, một số làm văn bản đề nghị, công văn yêu cầu hoặc cả hai hình thức.
2. Trách nhiệm của cơ sở giam giữ khi trích xuất

Cơ sở giam giữ trong quá trình trích xuất có các trách nhiệm như sau:
– Cơ sở giam giữ trong quá trình trích xuất theo quy định pháp luật sẽ có trách nhiệm kiểm tra, bàn giao người bị tạm giữ, người bị tạm giam cho cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải. Cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải có trách nhiệm bàn giao người được trích xuất cho người có thẩm quyền ra lệnh trích xuất. Việc giao nhận phải được lập biên bản, có ghi rõ tình trạng sức khỏe của người đó và ghi sổ theo dõi.
Các chủ thể là người có thẩm quyền ra lệnh trích xuất có trách nhiệm tiếp nhận người được trích xuất. Cơ quan hay các chủ thể là người có nhiệm vụ áp giải phối hợp với cơ sở giam giữ và người có thẩm quyền ra lệnh trích xuất quản lý và bảo đảm thực hiện chế độ ăn, ở, sinh hoạt đối với người được trích xuất theo quy định của pháp luật. Việc áp giải, quản lý và kinh phí bảo đảm thực hiện chế độ ăn, ở, sinh hoạt đối với các chủ thể là người được trích xuất sẽ do Chính phủ quy định.
Cần lưu ý khi chưa hết thời hạn trích xuất nhưng đã hoàn thành mục đích trích xuất hoặc hết thời hạn trích xuất, người có yêu cầu trích xuất bàn giao người được trích xuất cho cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải để giao người được trích xuất cho cơ sở giam giữ, trừ trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam được trả tự do theo bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền. Nếu các chủ thể có nhu cầu tiếp tục trích xuất thì phải có lệnh gia hạn trích xuất. Thời hạn trích xuất và gia hạn trích xuất theo quy định của pháp luật không được dài hơn thời hạn tạm giữ, tạm giam còn lại.
– Pháp luật cũng quy định trong trường hợp thực hiện hoạt động trích xuất bên trong khu vực cơ sở giam giữ thì thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định đưa người bị tạm giữ, người bị tạm giam ra khỏi buồng tạm giữ, buồng tạm giam mà không cần lệnh trích xuất.
3. Khi nào thì được trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam?
Trích xuất là việc đưa người bị tạm giữ, người bị tạm giam ra khỏi cơ sở giam giữ trong thời gian nhất định theo lệnh, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền để thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, khám bệnh, chữa bệnh, thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, thực hiện quyền, nghĩa vụ khác do luật định.
Việc trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam chỉ được thực hiện khi có lệnh trích xuất của người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam, trong trường hợp sau đây:
– Để phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
– Đưa đi khám bệnh, chữa bệnh, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần;
– Gặp thân nhân, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp để thực hiện một số quyền, nghĩa vụ do luật định;
– Người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam tiếp xúc lãnh sự hoặc tiếp xúc với các tổ chức nhân đạo theo quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo sự thỏa thuận giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc vì lý do đối ngoại đối với từng trường hợp cụ thể.
Trường hợp Giám thị trại tạm giam, Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng buồng tạm giữ của đồn biên phòng trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam đi khám bệnh, chữa bệnh thì phải thông báo ngay cho cơ quan đang thụ lý vụ án và Viện kiểm sát có thẩm quyền.
==> Như vậy, đưa đi người bị tạm, giam, người bị tạm giữ khám bệnh, chữa bệnh, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần thuộc một trong các trường hợp được trích xuất.
4. Thực hiện trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam
Theo Điều 20 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 quy định về thực hiện trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam có nội dung như sau:
– Pháp luật quy định rằng việc trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam chỉ được thực hiện khi có lệnh trích xuất của người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, trong trường hợp sau đây:
+ Việc trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam chỉ được thực hiện khi có lệnh trích xuất của người có thẩm quyền để phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự.
+ Việc trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam chỉ được thực hiện khi có lệnh trích xuất của người có thẩm quyền để đưa người bị tạm giữ, người bị tạm giam đi khám bệnh, chữa bệnh, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần;
+ Gặp thân nhân, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp để thực hiện một số quyền, nghĩa vụ do quy định của pháp luật.
+ Các chủ thể là người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam tiếp xúc lãnh sự hoặc tiếp xúc với các tổ chức nhân đạo theo quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo sự thỏa thuận giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc vì lý do đối ngoại đối với từng trường hợp cụ thể.
– Cần lưu ý đối với trường hợp Giám thị trại tạm giam, Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng buồng tạm giữ của đồn biên phòng trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam đi khám bệnh, chữa bệnh thì phải thông báo ngay cho cơ quan đang thụ lý vụ án và Viện kiểm sát có thẩm quyền.
– Lệnh trích xuất theo quy định pháp luật sẽ phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
+ Cơ quan, họ tên, chức vụ, cấp bậc người ra lệnh.
+ Họ tên, năm sinh, quốc tịch, nơi cư trú, hành vi vi phạm pháp luật, ngày bị tạm giữ, ngày bị tạm giam của người được trích xuất.
+ Mục đích và thời hạn trích xuất.
+ Họ tên, chức vụ, cấp bậc, cơ quan của người làm nhiệm vụ áp giải người được trích xuất hoặc cơ quan làm nhiệm vụ áp giải.
+ Họ tên, chức vụ, cấp bậc (nếu có) của người nhận trích xuất của cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất.
+ Ngày, tháng, năm ra lệnh; chữ ký của người ra lệnh và đóng dấu.
Như vậy, trên đây là những nội dung chủ yếu của lệnh trích xuất. Lệnh trích xuất cần đảm bảo các nội dung cơ bản sau để nhằm bảo đảm quá trình trích xuất diễn ra chính xác và đúng quy định pháp luật.
– Cơ sở giam giữ theo quy định của pháp luật sẽ có trách nhiệm kiểm tra, bàn giao người bị tạm giữ, người bị tạm giam cho cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải. Cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải có trách nhiệm bàn giao người được trích xuất cho người có thẩm quyền ra lệnh trích xuất. Việc giao nhận phải được lập biên bản, có ghi rõ tình trạng sức khỏe của người đó và ghi sổ theo dõi.
Các chủ thể là người có thẩm quyền ra lệnh trích xuất có trách nhiệm tiếp nhận người được trích xuất. Cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải phối hợp với cơ sở giam giữ và người có thẩm quyền ra lệnh trích xuất quản lý và bảo đảm thực hiện chế độ ăn, ở, sinh hoạt đối với người được trích xuất theo quy định của Luật này. Việc áp giải, quản lý và kinh phí bảo đảm thực hiện chế độ ăn, ở, sinh hoạt đối với người được trích xuất do Chính phủ quy định.
Khi chưa hết thời hạn trích xuất nhưng đã hoàn thành mục đích trích xuất hoặc hết thời hạn trích xuất, người có yêu cầu trích xuất bàn giao người được trích xuất cho cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải để giao người được trích xuất cho cơ sở giam giữ, trừ trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam được trả tự do theo bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền. Nếu có nhu cầu tiếp tục trích xuất thì phải có lệnh gia hạn trích xuất. Thời hạn trích xuất và gia hạn trích xuất không được dài hơn thời hạn tạm giữ, tạm giam còn lại.
– Cần lưu ý đối với trường hợp thực hiện hoạt động quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 bên trong khu vực cơ sở giam giữ thì thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định đưa người bị tạm giữ, người bị tạm giam ra khỏi buồng tạm giữ, buồng tạm giam mà không cần lệnh trích xuất.
Như vậy, pháp luật hiện hành đã đưa ra quy định cụ thể về việc thực hiện trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Quá trình thực hiện trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam cần được thực hiện theo đúng quy định được nêu cụ thể nêu trên để đảm bảo quá trình trích xuất diễn ra chính xác, đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan.
5. Câu hỏi thường gặp
Tính thời hạn tạm giam trong trường hợp bị can đã bị tạm giữ như thế nào?
Khoản 1 Điều 17 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC quy định về tính thời hạn tạm giam trong trường hợp bị can đã bị tạm giữ như sau:
Thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam để điều tra. Nếu việc tạm giam liên tục với việc tạm giữ thì thời hạn tạm giam được tính tiếp từ ngày hết thời hạn tạm giữ. Nếu việc tạm giam không liên tục với việc tạm giữ thì thời hạn tạm giam được tính kể từ ngày bắt bị can để tạm giam cho đến ngày kết thúc được ghi trong lệnh (đã trừ đi số ngày bị tạm giữ). Thời điểm cuối cùng của thời hạn tạm giam là 24 giờ 00 phút của ngày cuối cùng được ghi trong lệnh. Khi tính thời hạn tạm giữ, tạm giam phải căn cứ vào thời hạn thực tế được ghi trong quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam, lệnh bắt bị can để tạm giam và tính liên tục cả ngày nghỉ (thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết), 01 tháng tạm giam được tính bằng 30 ngày.
Các trường hợp nào thực hiện việc trích xuất người?
Việc trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam chỉ được thực hiện khi có lệnh trích xuất của người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam trong các trường hợp:
- Phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
- Đưa đi khám bệnh, chữa bệnh, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần;
- Gặp thân nhân, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp để thực hiện một số quyền, nghĩa vụ do luật định;
- Người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam tiếp xúc lãnh sự hoặc tiếp xúc với các tổ chức nhân đạo theo quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo sự thỏa thuận giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc vì lý do đối ngoại đối với từng trường hợp cụ thể.
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015.
Thẩm quyền trích xuất người trong vụ án hình sự thuộc về cá nhân, tổ chức nào?
Về thẩm quyền trích xuất người bị tạm giữ, tạm giam như sau:
Theo khoản 3 Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, thẩm quyền trích xuất người bị tạm giữ, tạm giam được quy định thuộc về Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam. Cụ thể trường hợp các chủ thể này được ra lệnh trích xuất như sau:
- Ra lệnh trích xuất để khám, chữa bệnh và phục vụ công tác giam giữ; ra lệnh trích xuất hoặc quyết định cho gặp thân nhân, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp để thực hiện một số quyền, nghĩa vụ do luật định;
- Thực hiện lệnh trích xuất hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam tiếp xúc lãnh sự hoặc các tổ chức nhân đạo.
Tóm lại, Luật sư ACC vừa cung cấp đến quý bạn đọc bài viết liên quan đến vấn đề “Trích xuất người bị tạm giữ tạm giam trong những trường hợp nào?”. Nếu bạn cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác, Luật sư ACC luôn sẵn sàng hỗ trợ. Với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm, chúng tôi cam kết cung cấp giải pháp pháp lý hiệu quả và phù hợp nhất cho khách hàng.
