Vi phạm về thu thập tài liệu chứng cứ là vấn đề nghiêm trọng trong tố tụng, có thể làm mất hiệu lực của chứng cứ và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên tham gia. Việc thu thập tài liệu phải tuân thủ chặt chẽ quy định pháp luật để đảm bảo tính hợp pháp và công bằng. Cùng Luật sư ACC tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh liên quan.

Nội dung bài viết
1. Vi phạm về thu thập tài liệu chứng cứ
Vi phạm về thu thập tài liệu chứng cứ có thể phát sinh khi chứng cứ được thu thập không đúng chủ thể, không đúng trình tự, thủ tục hoặc bằng phương thức mà pháp luật không cho phép.
Trong tố tụng hình sự, Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định chứng cứ được xác định từ các nguồn như vật chứng, lời khai, dữ liệu điện tử, kết luận giám định, định giá tài sản, biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác. Khoản 2 Điều 87 đồng thời quy định những gì có thật nhưng không được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.
Trong tố tụng dân sự, Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định chứng cứ là những gì có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ xác định tình tiết khách quan của vụ án. Việc thu thập chứng cứ vì vậy phải gắn với đúng trình tự tố tụng và thẩm quyền của chủ thể thực hiện.
2. Các hình thức vi phạm phổ biến
Một số hành vi có thể dẫn đến vi phạm trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ gồm:
- Thu thập chứng cứ không đúng thẩm quyền hoặc không đúng thủ tục: Ví dụ, thực hiện hoạt động tố tụng phải có quyết định, lệnh hoặc sự phê chuẩn của cơ quan, người có thẩm quyền nhưng lại không đáp ứng điều kiện này.
- Dùng biện pháp trái pháp luật để lấy lời khai: Trong tố tụng hình sự, Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hoặc bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe con người.
- Thu thập lời khai không đúng trình tự: Chẳng hạn, việc hỏi cung bị can phải tuân thủ Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; biên bản hỏi cung phải được lập theo Điều 184. Đặc biệt, khoản 5 Điều 183 quy định người nào bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
- Lập biên bản không đúng quy định: Biên bản về hoạt động tố tụng phải tuân thủ Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; nội dung biên bản phải được đọc, giải thích quyền bổ sung, nhận xét và được ký xác nhận theo quy định.
- Làm giả hoặc làm sai lệch tài liệu, chứng cứ: Hành vi làm giả, sửa chữa hoặc làm sai lệch tài liệu nhằm sử dụng trong quá trình tố tụng có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý tương ứng.
Đối với tố tụng dân sự, đương sự có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Khi chứng cứ bị tố cáo là giả mạo, Điều 102 quy định cơ chế xử lý, trong đó Tòa án có thể trưng cầu giám định; nếu có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm hình sự.
3. Hậu quả pháp lý của vi phạm
Hậu quả trước hết phụ thuộc vào loại tố tụng và tính chất của vi phạm.
Trong vụ án hình sự, khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định rõ chứng cứ không được thu thập đúng trình tự, thủ tục thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ giải quyết vụ án. Khi đánh giá chứng cứ, Điều 108 yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện và xác định tính hợp pháp, xác thực, liên quan của từng chứng cứ.
Đối với người tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm, trách nhiệm pháp lý được xác định tùy hành vi cụ thể. Chẳng hạn, Điều 373 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội bức cung; Điều 374 quy định về tội dùng nhục hình. Không phải mọi sai sót trong thu thập chứng cứ đều đương nhiên cấu thành tội phạm mà phải căn cứ vào hành vi, chủ thể, lỗi và các dấu hiệu cấu thành tội phạm tương ứng.
Trong tố tụng dân sự, Tòa án đánh giá chứng cứ theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; tài liệu không đáp ứng điều kiện về chứng cứ hoặc không bảo đảm tính xác thực, hợp pháp có thể không được sử dụng để làm căn cứ giải quyết vụ án. Việc một yêu cầu của đương sự có được chấp nhận hay không còn phụ thuộc vào toàn bộ chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong vụ án.
4. Biện pháp khắc phục và xử lý
Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm trong quá trình thu thập chứng cứ, việc xử lý cần căn cứ vào loại vi phạm và giai đoạn tố tụng cụ thể. Có thể thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Rà soát toàn bộ tài liệu, chứng cứ đã thu thập
Kiểm tra nguồn chứng cứ, chủ thể thu thập, thẩm quyền, trình tự lập biên bản và các điều kiện pháp luật khác. Đối với vụ án hình sự, cần đối chiếu với Điều 87 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan của chứng cứ.
Bước 2: Xác định giá trị sử dụng của chứng cứ
Đối với chứng cứ hình sự được thu thập không đúng trình tự, thủ tục, khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xác định chứng cứ đó không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ giải quyết vụ án. Đối với vụ án dân sự, Tòa án xem xét tài liệu theo các điều kiện về chứng cứ và quy định về giao nộp, thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ.
Bước 3: Thực hiện lại hoặc bổ sung hoạt động thu thập khi cần thiết
Trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền thực hiện hoạt động tố tụng bổ sung theo đúng căn cứ, thẩm quyền và trình tự luật định. Việc này phải bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng và không sử dụng biện pháp trái pháp luật để thu thập lời khai hoặc tài liệu.
Bước 4: Xem xét trách nhiệm của người có hành vi vi phạm
Tùy tính chất, mức độ và hậu quả, người vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường được xem xét theo quy định pháp luật tương ứng.
5. Câu hỏi thường gặp
Vi phạm về thu thập tài liệu chứng cứ có bị xử lý hình sự không?
Có thể bị xử lý hình sự nếu hành vi có đầy đủ dấu hiệu của tội phạm. Chẳng hạn, hành vi bức cung hoặc dùng nhục hình trong hoạt động tố tụng có thể bị xem xét theo Điều 373 và Điều 374 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Chứng cứ vi phạm có được Tòa án chấp nhận không?
Trong tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định chứng cứ không được thu thập đúng trình tự, thủ tục thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ giải quyết vụ án. Trong tố tụng dân sự, Tòa án xem xét giá trị chứng minh của tài liệu theo các điều kiện về chứng cứ và trình tự thu thập, giao nộp, kiểm tra, đánh giá theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Làm thế nào để chứng minh vi phạm thu thập chứng cứ?
Có thể dựa vào biên bản tố tụng, quyết định hoặc lệnh liên quan, dữ liệu điện tử, lời khai và các tài liệu khác để xác định chủ thể, thời điểm, phương thức và trình tự thu thập chứng cứ. Khi phát hiện vi phạm, người tham gia tố tụng có thể thực hiện quyền khiếu nại, kiến nghị hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét giá trị pháp lý của chứng cứ theo thủ tục tương ứng.
Vi phạm về thu thập tài liệu chứng cứ có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho cả quá trình tố tụng và quyền lợi của các bên. Để được hỗ trợ chi tiết và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, liên hệ Luật sư ACC ngay hôm nay.
