Người bị truy nã có được hưởng án treo không?

“Người bị truy nã có được hưởng án treo không?” là câu hỏi mà nhiều người đặt ra khi đối diện với các vụ án hình sự. Việc bị truy nã thường gắn liền với hình ảnh của một kẻ tội phạm cố tình trốn tránh pháp luật. Vậy, liệu những người này có cơ hội được hưởng án treo – một hình thức xử lý nhân đạo của pháp luật – hay không? Bài viết này Luật sư ACC sẽ giúp bạn tìm câu trả lời.

1. Người bị truy nã có được hưởng án treo không?

Tại Điều 3 Nghị quyết 02/ 2018/ NQ- HĐTP, có quy định về các hành vi không được hưởng án treo như sau

– Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

– Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.

– Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.

– Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

– Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

– Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

= > Như vậy, người thực hiện hành vi, vi phạm pháp luật hình sự đã bị cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị bị truy nã, hoặc đang thực hiện biện pháp truy nã thì Tòa án sẽ không quyết định cho hưởng án treo đối với đối tượng này.

2. Bị truy nã trong giai đoạn điều tra có được hưởng án treo?

Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao chỉ quy định trường hợp bị cáo tại ngoại bỏ trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đ đề nghị cơ quan điều tra truy nã mới thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Vậy các trường hợp bị can bị truy nã trong giai đoạn điều tra, Tòa xử sao cho đúng?

Cho hưởng án treo không đúng quy định cũng là những vi phạm xảy ra nhiều, vi phạm này thường bắt nguồn từ việc nhận thức và áp dụng không đúng các quy định của pháp luật cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, như nhận thức áp dụng sai các tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự từ đó cho hưởng án treo cả những đối tượng chủ mưu, phạm nhiều tội cùng lúc hoặc phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, các đối tượng phạm tội có tính chất côn đồ, hoặc cho hưởng án treo đối với các bị cáo phạm các tội dư luận lên án, vi phạm nghiêm trọng Nghị quyết 01/ 2013/ NQ- HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60 BLHS về án treo.

Thực tiễn xét xử án hình sự hai vụ “ Cố ý gây thương tích ”( theo khoản 2, khoản 3 Điều 104 BLHS 1999), TAND TP. Nha Trang đã tuyên cho hai trường hợp bị cáo đã từng bị truy nã trong giai đoạn điều tra nhưng được hưởng án treo. Một vụ xét xử sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực; Một vụ HĐXX khi đang tuyên án cho hưởng án treo, trả tự do ngay tại tòa, người bị hại phản ứng, gây náo loạn tại phòng xử án. Vụ án này đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Việc Tòa án TP. Nha Trang xử phạt tù cho hưởng treo nêu trên đã gây nhiều tranh cãi trong việc áp dụng quy định BLHS về án treo.

Trước đây, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Chỉ thị số 01/ 2005/ CT- CA về công tác đấu tranh phòng, chống một số tội phạm hình sự trong tình hình hiện nay và Công văn số 134/ TA- TKTH ngày 08/10/2010, về tăng cường kiểm tra việc xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Cho đến thời điểm này, việc xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo phải bảo đảm các căn cứ quy định tại Điều 60 BLHS 1999 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/ 2013/ NQ- HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo phải căn cứ theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị Quyết 01/2013, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và nhân thân, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo trong vụ án cũng như yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Nghị quyết số 01/2013, có quy định trường hợp bị cáo tại ngoại bỏ trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã đề nghị cơ quan điều tra truy nã thuộc trường hợp không cho hưởng án treo.

Vấn đề trao đổi ở đây là việc TAND TP. Nha Trang đã để các bị cáo bỏ trốn trong trong giai đoạn điều tra được hưởng án treo có vi phạm trong việc áp dụng BLHS 1999 về án treo? Phải chăng BLHS 1999 và BLHS 2015 cũng như Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao chưa quy định cụ thể về tình huống này? Việc để các bị cáo bỏ trốn, truy nã trong giai đoạn được tra nếu không thuộc trường hợp hạn chế nên công bố công khai, có thể lựa chọn làm Án lệ để thẩm phán có căn cứ áp dụng khi xét xử gặp tình huống này, tránh khiếu nại, kháng nghị dài trong hoạt động xét xử.

Hiện nay, TAND Tối cao đang tiến hành tổng kết thực tiễn thi hành Nghị quyết số 01/ 2013/ NQ- HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 60 BLHS về án treo. Hy vọng TAND tối cao sẽ xem xét tình huống này để có căn cứ ban hành Nghị quyết( thay thế Nghị quyết số 01/ 2013/ NQ- HĐTP hướng dẫn thi hành quy định về án treo) phù hợp với quy định BLHS năm 2015 và giải quyết những khó khăn bất cập trong thực tiễn xét xử trong thời gian qua.

Án treo là biện pháp có điều kiện, được tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù.

Các trường hợp không cho hưởng án treo theo Nghị quyết 01/ 2013/ NQ- HĐTP

a) Người phạm tội thuộc đối tượng cần phải nghiêm trị quy định tại khoản 2 Điều 3 của Bộ luật hình sự bao gồm người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng; phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;

b) Bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội;

c) Trong hồ sơ thể hiện là ngoài lần phạm tội và bị đưa ra xét xử, họ còn có hành vi phạm tội khác đã bị xét xử trong một vụ án khác hoặc đang bị khởi tố, điều tra, truy tố trong một vụ án khác;

d) Bị cáo tại ngoại bỏ trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã đề nghị cơ quan điều tra truy nã.

3. Bị truy nã ra đầu thú có được hưởng án treo?

Căn cứ theo Điều 1, Nghị quyết số 02/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định về án treo là “Biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được toà án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù”. Theo đó, các điều kiện được hưởng án treo được quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự 2015:

– Khi xử phạt tù không quá 03 năm

– Có nhân thân tốt

– Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

– Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

– Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Không thuộc các trường hợp không được hưởng án treo.

Điều 3 Nghị quyết số 02/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định về ác trường hợp không được hưởng án treo:

“1. Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

2. Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.

3. Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.

4. Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

5. Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

6. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm”.

Như vậy, căn cứ vào quy định này thì người thực hiện hành vi phạm tội mà bỏ trốn, đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã sẽ không được hưởng án treo. Do đó, trường hợp bạn bị cơ quan công an ra quyết đinh truy nã về tội gây rối trật tự công cộng mặc dù đã ra đầu thú sẽ không được hưởng án treo.

Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo được quy định thế nào?

Theo Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP được sửa đổi bởi điểm a, b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, người bị kết án phạt tù được hưởng án treo khi đáp ứng các điều kiện sau:

(1) Bị xử phạt tù không quá 03 năm;

(2) Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

(3) Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

(4) Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

(5) Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Những trường hợp nào không được hưởng án treo theo quy định?

Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP được sửa đổi bởi điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP có quy định rõ về những trường hợp không được hưởng án treo.

Trong giai đoạn điều tra, bị can bỏ trốn sau đó ra đầu thú và được tại ngoại, vậy khi xét xử trường hợp này có thể hưởng án treo?

Tại điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP-TAND Tối cao đã quy định cụ thể những trường hợp không cho hưởng án treo:

1. Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

2. Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.

3. Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.

4. Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

5. Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

6. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Căn cứ khoản 2 Điều 3 Nghị quyết nêu trên trường hợp “Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã”  không được hưởng án treo.

Tóm lại, Luật sư ACC vừa cung cấp đến quý bạn đọc bài viết liên quan đến vấn đề “Người bị truy nã có được hưởng án treo không?”. Nếu bạn cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác, Luật sư ACC luôn sẵn sàng hỗ trợ. Với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm, chúng tôi cam kết cung cấp giải pháp pháp lý hiệu quả và phù hợp nhất cho khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *