Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

Hệ thống pháp luật của một quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công lý và trật tự xã hội. Hình phạt là một công cụ pháp lý không thể thiếu, được áp dụng đối với những hành vi vi phạm pháp luật. Bài viết này sẽ tổng hợp và phân tích các hình phạt được áp dụng trong nhiều bản án khác nhau, từ đó làm rõ hơn về tính đa dạng và sự phù hợp của các hình phạt này trong thực tiễn.

Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

1. Hình phạt là gì?

Theo Điều 30 Bộ luật Hình sự 2015 thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.

2. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

Trong thực tế, một người có thể thực hiện một hoặc nhiều hành vi phạm tội. Việc xét xử hành vi phạm tội đầu tiên có thể diễn ra trước hoặc sau các hành vi phạm tội khác mà không nhất thiết phải theo thứ tự thời gian của các hành vi phạm tội. Ngoài ra, một bản án có thể được xét xử trước nhưng có hiệu lực sau bản án khác do việc kháng cáo hoặc kháng nghị.

Theo nguyên tắc, tất cả các hành vi phạm tội cần được đưa ra xét xử kịp thời và đúng quy định pháp luật. Mọi bản án và quyết định cũng phải được thi hành. Bộ luật Hình sự quy định rõ về việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án tại Điều 56, Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Việc tổng hợp hình phạt từ nhiều bản án được quy định trong ba trường hợp sau:

2.1. Trường hợp một người đang chấp hành một bản án và bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án đó

Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.”

Quy định này có thể hiểu là khi một người bị xét xử về một tội đã có bản án có hiệu lực pháp luật, và sau đó người này lại bị xét xử về một tội khác mà hành vi phạm tội mới được thực hiện trước khi bản án có hiệu lực, Tòa án sẽ quyết định hình phạt cho tội đang xét xử trước. Sau đó, hình phạt sẽ được tổng hợp với hình phạt của bản án trước đã có hiệu lực. Thời gian chấp hành hình phạt của bản án trước sẽ được trừ vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp. Thẩm quyền tổng hợp hình phạt thuộc về hội đồng xét xử đang xét xử vụ án.

2.2. Trường hợp một người đang chấp hành một bản án và lại thực hiện hành vi phạm tội mới

Khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.”

Trong trường hợp này, việc tổng hợp hình phạt theo khoản 2 là khi một người đã bị kết án về một hành vi phạm tội và đang chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật, sau đó thực hiện hành vi phạm tội khác, mà hành vi này hoàn toàn mới và không phải là hành vi đã được thực hiện trước đó.

Ví dụ: Trần H đang chấp hành án tại Trại giam B. Trong thời gian này, H có hành vi cố ý gây thương tích cho một phạm nhân khác. Khi xét xử hành vi này, Tòa án sẽ tổng hợp hình phạt theo khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2.3. Trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt chưa được tổng hợp

Khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”

Việc tổng hợp hình phạt theo khoản 1 và khoản 2 yêu cầu người bị xét xử phải đang chấp hành một bản án đã có hiệu lực. Quy định tại khoản 3 là để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật nếu Tòa án không thể tổng hợp theo hai khoản trên. Thẩm quyền tổng hợp hình phạt thuộc về Chánh án Tòa án, không phải hội đồng xét xử.

Ví dụ: Ngày 3/1/2019, Tòa án nhân dân huyện X tuyên phạt Nguyễn Văn B 1 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 15/1/2019, Tòa án nhân dân huyện Y xét xử B về tội cố ý gây thương tích. Trong trường hợp này, Tòa án huyện Y không thể áp dụng khoản 1 Điều 56 để tổng hợp hình phạt, vì bản án của Tòa án huyện X chưa có hiệu lực pháp luật. Khi hai bản án đều có hiệu lực, Chánh án Tòa án huyện Y sẽ thực hiện việc tổng hợp hình phạt.

Tuy nhiên, hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc tổng hợp hình phạt từ nhiều bản án theo quy định tại khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015; cũng chưa xác định rõ Chánh án nào có quyền tổng hợp. Việc tổng hợp hình phạt vẫn được áp dụng theo tinh thần quy định tại mục 5 Thông tư liên tịch số 02/TT-LN ngày 20/12/1991 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Cụ thể như sau:

  • Nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật của cùng một Tòa án, thì Chánh án Tòa án đó ra quyết định tổng hợp hình phạt.
  • Nếu các bản án thuộc các Tòa án khác nhau nhưng cùng cấp, thì Chánh án Tòa án ra bản án sau cùng (theo thời gian) sẽ quyết định tổng hợp hình phạt.
  • Nếu các bản án là của các Tòa án không cùng cấp, thì Chánh án Tòa án cấp cao hơn sẽ ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào thứ tự thời gian.
  • Nếu có sự kết hợp giữa bản án của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự, việc tổng hợp hình phạt cũng sẽ được thực hiện theo hướng dẫn tương tự.
  • Trong trường hợp có bản án của Tòa án nước ngoài đã được công nhận cùng với bản án của Tòa án Việt Nam, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sẽ quyết định tổng hợp hình phạt.

Như vậy, việc xác định Chánh án Tòa án có thẩm quyền tổng hợp hình phạt theo khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện nay chưa được hướng dẫn rõ ràng. Việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật theo hướng dẫn tại mục 5 của Thông tư liên tịch số 02/TT-LN ngày 20/12/1991 cũng không còn phù hợp với thực tiễn và các quy định hiện hành. Để đảm bảo tính thống nhất, các cơ quan tư pháp liên ngành Trung ương cần có văn bản hướng dẫn cụ thể cho quy định tại khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 để thực hiện.

3. Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội 

Theo Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015 thì khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

* Đối với hình phạt chính:

– Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;

– Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015;

– Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;

– Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;

– Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

– Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác;

* Đối với hình phạt bổ sung:

– Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật Hình sự 2015 quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

– Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.

Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

4. Câu hỏi thường gặp

Có đúng không khi cho rằng hình phạt chung sau khi tổng hợp sẽ luôn bằng tổng hình phạt của các bản án riêng lẻ?

  • Giải thích: Không nhất thiết. Luật pháp có quy định về mức hình phạt tối đa, do đó hình phạt chung có thể bị giới hạn.

Có trường hợp nào hình phạt chung lại thấp hơn tổng hình phạt các bản án riêng lẻ không?

  • Giải thích: Có. Điều này có thể xảy ra trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như khi các tội phạm có liên quan chặt chẽ với nhau.

Nếu một người đang chấp hành án tù và lại bị kết án thêm một tội khác, liệu thời gian đã chấp hành có được tính vào hình phạt chung không?

  • Giải thích: Có, thời gian đã chấp hành sẽ được tính vào hình phạt chung, nhưng cần có quy định cụ thể của pháp luật.

Hy vọng qua bài viết, Luật sư ACC đã giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về vấn đề Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án. Đừng ngần ngại hãy liên hệ với Luật sư ACC nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc gì cần tư vấn giải quyết.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *