Trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự, không ít trường hợp hành vi của người phạm tội vừa mang tính chất vi phạm hình sự, vừa có yếu tố vi phạm hành chính. Điều này đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để giải quyết đồng thời cả hai loại vi phạm này? Việc xử phạt hành chính trong vụ án hình sự có ý nghĩa như thế nào và đặt ra những vấn đề gì? Bài viết này sẽ đi sâu phân tích vấn đề trên.

Nội dung bài viết
1. Đã có quyết định xử phạt hành chính có bị xử lý hình sự không?
– Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
– Trong quá trình thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì:
+ Người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó.
+ Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày tạm đình chỉ phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
Trong trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt hành chính thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
– Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự có trách nhiệm xem xét, kết luận vụ việc và trả lời kết quả giải quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển hồ sơ trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Trường hợp không khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải trả hồ sơ vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ đến.
– Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi 2020) , nếu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì:
+ Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính
+ Chuyển toàn bộ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tài liệu về việc thi hành quyết định xử phạt cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự phải được thông báo bằng văn bản cho cá nhân, tổ chức vi phạm.
(Theo Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi 2020))
2. Xử phạt hành chính trong vụ án hình sự
Trong một số vụ án hình sự như trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy,… ngoài hành vi phạm tội chính, bị cáo còn có thể thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác, nhưng những hành vi này không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Vậy, liệu các hành vi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự này có bị xử phạt hành chính hay không?
Vụ án thứ nhất: Ngày 13/4/2019, Nguyễn Văn A và Trần Văn B đột nhập vào khu vực đậu xe của công ty X và trộm 3 bình ắc quy, được định giá là 3.500.000 đồng. Sau đó, A và B bị bắt để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, A và B còn khai nhận rằng, vào ngày 10/4/2019, họ đã đột nhập vào cùng khu vực này và trộm 1 bình ắc quy, trị giá 1.400.000 đồng. Tòa án nhân dân huyện Y đã xét xử A và B về tội “trộm cắp tài sản” liên quan đến hành vi trộm 3 bình ắc quy vào ngày 13/4/2019 theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Vụ án thứ hai: Ngày 9/5/2019, Nguyễn Văn C bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra, C thừa nhận đã sử dụng ma túy trước khi bị bắt. Kiểm tra cho thấy C dương tính với ma túy. Tòa án nhân dân huyện Y xét xử C về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Qua hai vụ án trên, có thể thấy hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/4/2019 của A và B, cùng hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C vào ngày 9/5/2019 không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu các hành vi này có cần phải xử phạt hành chính hay không? Hiện có hai quan điểm khác nhau về vấn đề này:
Quan điểm thứ nhất: Mặc dù các hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/4/2019 của A và B, cũng như hành vi sử dụng trái phép ma túy của C ngày 9/5/2019 là trái pháp luật, nhưng cả ba bị cáo đều đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự cho các hành vi khác (trộm cắp tài sản ngày 13/4/2019 và tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 9/5/2019). Do đó, các hành vi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự của A, B và C cần được xem xét trong tổng thể vụ án hình sự và không cần thiết phải xử phạt hành chính.
Quan điểm thứ hai: Theo nguyên tắc, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý. Do vậy, hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/4/2019 của A và B, cùng với hành vi sử dụng ma túy của C ngày 9/5/2019, dù không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, vẫn phải bị xử phạt hành chính.
Cụ thể, trong quá trình xét xử vụ án hình sự, Tòa án có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với A và B về hành vi trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, và đối với C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 21 của Nghị định này.
3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự 2015 (khoản 2 Điều 23 Bộ luật hình sự 1999) thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:
– Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;
Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm (điểm a, khoản 2 Điều 1 Bộ luật hình sự 2017).
– Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;
Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù (điểm b, khoản 2 Điều 1 Bộ luật hình sự 2017).
– Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;
Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù (điểm c, khoản 2 Điều 1, Bộ luật hình sự 2017).
– Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (điểm d, khoản 2 Điều 1 Bộ luật hình sự 2017).
Để biết thêm thông tin mời quý khách theo dõi bài viết: Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

4. Câu hỏi thường gặp
Liệu việc đã bị xử phạt hành chính có đồng nghĩa với việc không bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
- Không. Việc bị xử phạt hành chính chỉ áp dụng đối với những hành vi vi phạm hành chính, còn nếu hành vi đó cấu thành tội phạm thì người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trong một vụ án hình sự, tòa án có quyền trực tiếp quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo không?
- Không. Tòa án chỉ có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự. Quyền quyết định xử phạt hành chính thuộc về cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Nếu một vụ án hình sự sau đó được xác định chỉ là vi phạm hành chính, liệu bị cáo có được hưởng quyền lợi gì không?
- Có. Trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sẽ chuyển hồ sơ vụ việc sang cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính để xem xét, xử lý. Bị cáo có quyền được bảo vệ theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Hy vọng qua bài viết, Luật sư ACC đã giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về vấn đề Xử phạt hành chính trong vụ án hình sự. Đừng ngần ngại hãy liên hệ với Luật sư ACC nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc gì cần tư vấn giải quyết.
