Thỏa thuận trọng tài thương mại là gì?

Khi các bên xảy ra tranh chấp khi có thỏa thuận thì việc giải quyết tranh chấp này thuộc về thẩm quyền của trọng tài thương mại. Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thể hiện sự thống nhất ý chí, tự nguyện và đồng thuận của các bên tham gia tranh chấp. Vậy thỏa thuận trọng tài thương mại là gì?

1. Trọng tài thương mại là gì?

Trọng tài (Arbitration); cụ thể hơn là trọng tài thương mại (Commercial Arbitration) là một phương thức giải quyết tranh chấp (có thể về kinh doanh, lao động, thương mại). Trọng tài do các bên thỏa thuận, có thể được sử dụng thay thế cho phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống bằng Tòa án.

Theo Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010:

“1.Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này.”

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp rất đơn giản, thủ tục linh hoạt, tiết kiệm thời gian. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài không công khai. Điều này giúp Doanh nghiệp giữ bí mật kinh doanh; tránh ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động động sản xuất.

2. Thỏa thuận trọng tài là gì?

Thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là nền tảng cho giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Nó là sự thống nhất của các bên nhằm đưa vụ tranh chấp ra trọng tài. Sự đồng thuận đóng vai trò lớn trong phương thức này.

Về mặt pháp lý, Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định:

“2. Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.”

Thoả thuận trọng tài thể hiện ý chí; nguyện vọng; thể hiện quyển tự do của các bên trong việc giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, quyển tự do này cũng phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật. Khuôn khổ của pháp luật ở đây chính là những quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực; vô hiệu của thoả thuận trọng tài.

3. Đặc điểm của Thỏa thuận trọng tài

3.1. Đặc điểm chung

Thỏa thuận trọng tài là một  thỏa thuận dân sự. Nghĩa là thỏa thuận này cần thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên về việc đưa tranh chấp ra Trọng tài Thương mại. Thỏa thuận trọng tài được xác lập khi các bên đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

3.2. Hình thức thỏa thuận

Điều 16 Luật TTTM 2010 đã quy định rõ:“Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng”. Theo đó, thỏa thuận trọng tài có thể tồn tại dưới một trong hai hình thức:

– Là điều khoản trong hợp đồng: Các bên kí kết hợp đồng đồng thời ghi nhận luôn về việc giải quyết tranh chấp bằng TTTM là một điều khoản trong hợp đồng đó. Ví dụ: Công ty A và công ty B kí hợp đồng mua bán gạo, tại Điều 23 hợp đồng này chỉ rõ: “Mọi tranh chấp có liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng TTTM”.

– Thỏa thuận riêng: Các bên kí kết hợp đồng không ghi nhận việc giải quyết tranh chấp bằng TTTM thành một điều khoản của hợp đồng mà ghi nhận thỏa thuận này trong một văn bản hoàn toàn tách biệt với tên gọi thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng TTTM hợp đồng đã kí trước đó. Ví dụ: Công ty A và công ty B nói trên kí thỏa thuận về giải quyết tranh chấp bằng TTTM các vấn đề phát sinh từ hợp đồng mua bán gạo giữa hai công ty nói trên.

Mặt khác, thỏa thuận TTTM không thể tồn tại dưới hình thức lời nói hoặc hành vi mà phải được xác lập dưới hình thức văn bản, bao gồm cả:

– Thỏa thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

– Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

– Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

– Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

3.3. Cách thức thỏa thuận

Theo quy định của Luật Trọng tài Thương mại năm 2010, có hai loại thỏa thuận trọng tài cơ bản:

  • điều khoản trọng tài;
  • thỏa thuận giải quyết tranh chấp đã phát sinh bằng trọng tài.

Điều khoản trọng tài là loại thỏa thuận thông dụng nhất. Thường được bao gồm trong thỏa thuận chính giữa các bên và là thỏa thuận sẽ đưa một tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai ra trọng tài. Còn thỏa thuận giải quyết tranh chấp đã phát sinh là thỏa thuận đưa một tranh chấp đang tồn tại ra trọng tài.

3.4. Nội dung thỏa thuận

Về nội dung, mục đích của thỏa thuận trọng tài (Khoản 6 Điều 18 Luật TTTM 2010, Khoản 6 Điều 3 Nghị quyết 01/2014): Thỏa thuận trọng tài chỉ được xem là có hiệu lực khi không vi phạm điều cấm của pháp luật (Khoản 6 Điều 18) và không trái đạo đức xã hội (Điều 4 Luật TTTM 2010). Điều 128 Bộ luật dân sự 2005 định nghĩa: “Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định; Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”.

3.5. Nguyên tắc thỏa thuận

Về nguyên tắc xác lập thỏa thuận trọng tài(Khoản 5 Điều 18 Luật TTTM 2010, Khoản 5 Điều 3 Nghị quyết 01/2014): Thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dựa trên nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận. Nghĩa là ý chí và sự thể hiện ý chí của các bên phải có sự thống nhất với nhau. Nói một cách cụ thể, nó phải được xác lập mà không thuộc trường hợp một trong các bên bị đe dọa, lừa dối, cưỡng ép.

3.6. Hiệu lực của thỏa thuận

Hình thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM chỉ được áp dụng khi các bên có thỏa thuận TTTM và thỏa thuận này phải có hiệu lực. Trên cơ sở những quy định tại Luật TTTM 2010, thỏa thuận trọng tài chỉ được xem là có hiệu lực khi thỏa thuận này không vô hiệu (Điều 18) đồng thời không thuộc trường hợp không thể thực hiện được (Điều 6).

– Thỏa thuận TTTM không vô hiệu

Điều 18 Luật TTTM 2010 quy định cụ thể 6 trường hợp thỏa thuận trọng tài được xem là vô hiệu. Bên cạnh đó, vấn đề này còn được quy định tại Điều 3 Nghị quyết 01/2014 của HĐTPTANDTC. Theo đó, thỏa thuận trọng tài chỉ được xem là không vô hiệu khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, về đối tượng của thỏa thuận trọng tài (Khoản 1 Điều 18 Luật TTTM 2010, Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 01/2014): Thỏa thuận trọng tài chỉ được xem là có hiệu lực khi có tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của TTTM. Điều 2 Luật TTTM 2010 đã quy định cụ thể gồm ba loại tranh chấp:

Tranh chấp giữa các bên trong đó có ít nhất một bên có hoạt động thương mại;

Tranh chấp khác theo quy định của pháp luật.

Mặt khác, Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.

Thứ hai, về chủ thể kí kết thỏa thuận trọng tài (Khoản 2, Khoản 3 Điều 18 Luật TTTM 2010, Khoản 2,3 Điều 3 Nghị quyết 01/2014):

Thỏa thuận trọng tài chỉ có hiệu lực khi các bên kí kết có thẩm quyền kí kết. Đối với cá nhân phải là người trực tiếp trong quan hệ tranh chấp hoặc người được họ ủy quyền (Ghi nhận thẩm quyền ký kết trong văn bản ủy quyền). Đối với pháp nhân, người xác lập phải là người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền trong phạm vi ủy quyền) của pháp nhân. Về nguyên tắc, thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập thì thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu tuy nhiên trong trường hợp thỏa thuận này được người có thẩm quyền xác lập chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu.

4. Câu hỏi thường gặp

Có các loại hình thức trọng tài thương mại nào?

Hiện nay, trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực.

Ưu điểm của giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là gì?

Thứ nhất, tạo được sự linh hoạt, thuận lợi, chủ động cho các bên khi không phải tham gia qua nhiều cấp xét xử. Các bên được tự do lựa chọn thủ tục tố tụng và thủ tục tố tụng của trọng tài cũng đơn giản hơn so với thủ tục tố tụng tại Tòa án.

Thứ hai, phán quyết của trọng tài khách quan và có độ tin cậy cao vì các bên được toàn quyền tự lựa chọn trọng tài viên. Việc chỉ định trọng tài viên giúp các bên chọn được trọng tài viên kinh nghiệm, có uy tín, kiến thức sâu rộng về vấn đề tranh chấp.

Thứ ba, nguyên tắc giải quyết tranh chấp của trọng tài không công khai giúp các bên bảo vệ được uy tín của mình và các bí mật kinh doanh.

Thứ tư, quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm, bắt buộc thi hành với các bên, các bên không có quyền kháng cáo hay kháng nghị. Đây là điểm khác biệt và cũng là ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với Tòa án.

Thỏa thuận trọng tài sẽ bị vô hiệu khi nào?

Đối với các trường hợp dưới đây, thỏa thuận trọng tài sẽ bị vô hiệu:

  • Thỏa thuận trọng tài được xác lập để giải quyết tranh chấp không thuộc lĩnh vực quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài Thương mại 2010.
  • Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Người xác lập không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền.
  • Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật dân sự.
  • Hình thức của thỏa thuận không phù hợp với các quy định được nêu ở trên.
  • Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó là vô hiệu.
  • Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

Hy vọng qua bài viết, Luật sư ACC đã giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về vấn đề Thỏa thuận trọng tài thương mại là gì? Đừng ngần ngại hãy liên hệ với Luật sư ACC nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc gì cần tư vấn giải quyết.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *